Đà Nẵng: Tín dụng tăng trưởng ở mức thấp nhưng cơ cấu tín dụng đã chuyển dịch theo hướng tích cực hơn

28/09/2014

Đó là ý kiến của Đại diện Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh Đà Nẵng tại Hội thảo khoa học “Ngân hàng Việt Nam - Bối cảnh và Triển vọng” diễn ra sáng ngày 26/9 tại Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng.

 

Đại diện Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TP Đà Nẵng trình bày tham luận: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CHỦ ĐỘNG, LINH HOẠT ĐÃ GÓP PHẦN ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ.

 

“Với mong muốn tạo một diễn đàn học thuật cho các nhà khoa học Tài chính - Ngân hàng, tạo sự liên kết giữa các trường đại học có chuyên ngành đào tạo về Tài chính - Ngân hàng trong cả nước, giữa các nhà nghiên cứu và nhà hoạch định, điều hành chiến lược chính sách ở Ngân hàng Nhà nước, chúng tôi tổ chức hội thảo này không chỉ để trao đổi về những vấn đề thời sự nổi cộm của hệ thống ngân hàng Việt Nam mà còn mong mỏi học hỏi những những quan điểm mới, cách tiếp cận mới, phương pháp mới trong nghiên cứu lĩnh vực ngân hàng” - GS.TS Trương Bá Thanh - Phó Giám đốc Đại học Đà Nẵng (nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế) chia sẻ trong báo cáo đề dẫn.

 

Theo đại diện Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh Đà Nẵng, hoạt động của Ngành Ngân hàng thành phố Đà Nẵng, đã bám sát định hướng điều hành về tín dụng, lãi suất của NHTW; sự chỉ đạo của Hội sở; sự giám sát, đôn đốc của NHNN Đà Nẵng hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tương đối ổn định, phù hợp với mục tiêu định hướng của NHTW qua đó đã đạt được những kết quả nhất định:

 

Thứ nhất, tăng trưởng tín dụng của toàn địa bàn tương đối phù hợp và góp phần vào việc thực hiện mục tiêu “tăng trưởng tín dụng của NHTW” qua các năm, theo đó năm 2011 tăng 7,07%, so với mức 12% của NHTW; năm 2012 tăng 4,97%, so với mức 8,9% của NHTW; năm 2013 tăng 6,43%, so với mức 8,8% của NHTW.

 

Thứ hai, Tín dụng mặc dù tăng trưởng ở mức thấp nhưng cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo hướng tích cực hơn. Giảm cho vay lĩnh vực phi sản xuất, tăng cho vay lĩnh vực sản xuất, đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế.

Trong năm 2011 cả hệ thống tập trung cơ cấu lại hoạt động cho vay, thì tại Đà Nẵng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất giảm 16,4%, dư nợ cho vay đối với lĩnh vực sản xuất tăng 15,7% so với cuối năm 2010. Tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất trên tổng dư nợ giảm từ mức 27% của năm 2010 xuống còn 21% vào cuối năm 2011.

 

Ngoài ra, tín dụng đối với lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế từ năm 2011 đến nay luôn tăng cao hơn so với tốc độ tăng trưởng tín dụng.

 

Tín dụng ngoại tệ đã được kiểm soát theo xu hướng giảm, phù hợp với khả năng huy động vốn và hạn chế đô la hóa trong nền kinh tế, góp phần ổn định thị trường ngoại hối. Từ tháng 9/2011, tín dụng VNĐ tăng trong khi tín dụng ngoại tệ bắt đầu xu hướng giảm. Năm 2012, tín dụng VNĐ tăng 8,75% trong khi tín dụng ngoại tệ giảm 12,13% so với cuối năm 2011. Năm 2013, tín dụng VNĐ tăng 11,03%, tín dụng ngoại tệ giảm 19,34% so với năm 2012.

 

Thứ ba, lãi suất cho vay liên tục giảm kể từ tháng 9/2011. Lãi suất cho vay bình quân bằng VND tại các TCTD trên địa bàn đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh đến cuối tháng 12/2013 là 11,5%, giảm 8,5 điểm phần trăm so với cuối tháng 9/2011; Lãi suất cho vay bình quân bằng ngoại tệ tại các TCTD trên địa bàn đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh đến cuối tháng 12/2013 là 4,97%, giảm 1,87 điểm phần trăm so với cuối tháng 9/2011.

 

Thứ tư, thực hiện có hiệu quả chủ trương chuyển dần quan hệ Huy động - Cho vay sang quan hệ Mua – Bán ngoại tệ. Kể từ cuối năm 2011 đến nay huy động ngoại tệ và cho vay ngoại tệ đều giảm sơn so với huy động và cho vay bằng VND. Doanh số mua, bán ngoại tệ tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó đáng chú ý là lượng ngoại tệ mua được từ TCKT và Dân cư tăng mạnh – đây là nguồn ngoại tệ chủ yếu được TCTD bán lại cho NHTW để tăng DTNH nhà nước.

 

Thứ năm, cung - cầu ngoại tệ trên địa bàn tương đối ổn định. Nguồn cung ngoại tệ từ TCKT và dân cư tăng lên trong khi đó cầu ngoại tệ từ các đối tượng này lại giảm. Tâm lý găm giữ ngoại tệ đã giảm đáng kể, tình trạng đô la hóa trên địa bàn đã được đẩy lùi một bước, thị trường ngoại tệ tự do “dường như không có sóng”, tỷ giá biến động thấp.

 

Hội thảo khoa học “Ngân hàng Việt Nam - Bối cảnh và Triển vọng” đã nhận được hơn 50 bài tham luận của các nhà khoa học từ các trường đại học trong cả nước, từ các nhà hoạch định và điều hành chính sách ở Ngân hàng Nhà nước, từ các nhà lãnh đạo điều hành ngân hàng.

 

GS.TS Trương Bá Thanh - Phó Giám đốc Đại học Đà Nẵng (nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế) cho biết, các bài viết đã hướng đến năm chủ đề lớn:

- Bối cảnh trong nước và quốc tê ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng Việt Nam.
- Thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam thời gian qua.
- Những vấn đề đặt ra trong hoạt động tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay: vấn đề nợ xấu, xử lý nợ xấu, năng lực tài chính của ngân hàng, hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua lại ngân hàng; vấn đề thanh khoản, chất lượng dịch vụ ngân hàng, sự hợp tác và cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, tác độngcủa các yếu tố kinh tế và pháp lý đến hoạt động ngân hàng v.v….
- Các chính sách thực thi của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng cùng kết quả đạt được.
- Nhận định, dự báo xu hướng, triển vọng và đề xuất về lĩnh vực ngân hàng.

 

 

Không khí tranh luận, phản biên sôi nổi tại Hội thảo. - Ảnh: T.Ngọc.


Trở lại với ý kiến của Đại diện Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh Đà Nẵng tại Hội thảo khoa học này, điều được khuyến cáo cũng được đưa ra tiếp theo. Đó là tại Đà Nẵng, hoạt động của các TCTD trên địa bàn về cơ bản an toàn nhưng cân đối vốn vẫn chưa thực vững chắc. Nếu không chủ động quản lý hoạt động tiền tệ trên địa bàn tốt sẽ gián tiếp ảnh hưởng đến kết quả điều hành chính sách tiền tệ của NHTW – bởi tính hệ thống của lĩnh vực tài chính – ngân hàng là rất cao.

 

Dư nợ trung dài hạn/ tổng dư nợ vẫn duy trì mức cao trong khi đó huy động vốn chủ yếu là kỳ hạn ngắn; Việc cho vay vẫn còn chủ yếu dựa trên cơ sở tài sản thế chấp (đa phần là BĐS) mà chưa chú trọng đến phương pháp cho vay dựa trên rủi ro. Chính điều này dễ dẫn đến hiện tượng gia tăng nợ xấu, thậm chí làm nợ có khả năng mất vốn tăng nhanh, khi dự án không phát huy được hiệu quả, dòng tiền của khách hàng không ổn định đồng thời giá tài sản đảm bảo tụt giảm nhanh (đặc biệt là đối với TSĐB là bất động sản trong giai đoạn Thị trường bất động sản bị đóng băng); Tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng lớn trên tổng dư nợ và có xu hướng tăng cao qua từng giai đoạn; Giai đoạn 2011 - 2013, tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp hơn nhiều so với các giai đoạn trước, nhưng tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh, phản ánh chất lượng tín dụng đang theo chiều hướng không thuận lợi; Tỷ lệ cho vay/ huy động tiền gửi luôn duy trì ở mức cao khoảng 130%. Mặc dù tỷ lệ này đã có xu hướng thay đổi theo chiều hướng tốt hơn song vẫn còn khá xa so với yêu cầu của NHTW trong việc thực hiện lộ trình tái cơ cấu hệ thống TCTD.

 

Theo ictdanang.vn

Đại học Đà Nẵng - http://www.udn.vn/