“Quan hệ Nhà trường với Địa phương (ĐP) và Doanh nghiệp (DN)” là chủ đề phiên Hội nghị vừa diễn ra hôm 7/11/2014 do trường Đại học (ĐH) Ngoại ngữ (ĐH Đà Nẵng) tổ chức.

 

Đây cũng là một trong những hoạt động của Nhà trường hướng về dịp kỷ niệm 20 năm thành lập ĐH Vùng, ĐH Đà Nẵng.

 

Tham luận của ông Nguyễn Văn Bảy - Giám đốc Trung tâm Đào tạo - Bồi dưỡng (ĐH Quảng Nam) về công tác liên kết đào tạo giữa ĐH Ngoại ngữ - thành viên ĐH Đà Nẵng - và ĐH Quảng Nam. 

 

Đặc biệt, trước khi diễn ra Hội nghị này; thông tin về "Thực trạng mất cân bằng Hướng dẫn viên (HDV) Du lịch (DL) chuyên ngữ đã và đang gây nhiều trở ngại cho sự phát triển của hoạt động DL Đà Nẵng” (được công bố tại một Hội thảo khác) đã “làm nóng” hơn sự quan tâm của công luận. Nhiều giải pháp đã được đưa ra và điểm gặp nhau của các góp ý càng khẳng định: Đã đến lúc vấn đề đào tạo nguồn lực phải đặt trong mối tương quan trách nhiệm của 3 Nhà: Nhà trường (lò đào tạo) – Cơ quan Nhà nước (Chính quyền ĐP; Sở - Ban, ngành chức năng) và Nhà tuyển dụng, sử dụng sản phẩm từ lò đào tạo (DN).

 

ICTDANANG lần lượt giới thiệu cùng độc giả 2 kỳ của bài viết bàn sâu về vấn đề vì sao? và làm thế nào? gắn kết hợp tác bền vững giữa Nhà trường – ĐP – DN.

 

ĐH Ngoại ngữ thuộc ĐH Đà Nẵng được thành lập theo Quyết định số 709/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 26 tháng 8 năm 2002, là "một ĐH chuyên ngành Ngoại ngữ, có sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về trình độ Ngoại ngữ, đồng thời là Trung tâm nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá nước ngoài, đáp ứng nhu cầu giáo dục, đối ngoại, giao lưu, hợp tác quốc tế, góp phần tích cực cho việc phát triển kinh tế - xã hội của TP Đà Nẵng, các tỉnh Miền Trung - Tây Nguyên và cả nước".

 

Đến nay, nhà trường đang triển khai đào tạo 1 chuyên ngành Tiến sĩ, 2 chuyên ngành Thạc sĩ, 20 chuyên ngành ĐH thuộc 7 khoa: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung, tiếng Nhật - Hàn - Thái, tiếng Anh chuyên ngành và Khoa Quốc tế học. Toàn trường hiện có 6.033 SV hệ chính quy, 637 học viên VLVH, 205 học viên cao học, 10 NCS đang theo học và nghiên cứu.

 

Đội ngũ Giảng viên (GV) gồm 245 người với 75% có trình độ sau ĐH được đào tạo tại các cơ sở đào tạo uy tín ở nước ngoài. Nhà trường đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Quản lý Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020 chọn là 1 trong 5 Trung tâm Ngoại ngữ khu vực triển khai nhiều nhiệm vụ quan trọng của Đề án, thông qua đó, đã giúp cho việc liên kết đào tạo của Nhà trường được mở rộng đến hầu hết các tỉnh thành trên cả nước.

 

Hội nghị “Quan hệ Nhà trường với ĐP và DN” do vậy đã thu hút sự quan tâm của Lãnh đạo Lãnh sự Liên bang Nga, Lãnh sự CHDCND Lào tại Đà Nẵng; Sở Ngoại vụ, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị TP Đà Nẵng; đại diện lãnh đạo các Trường ĐH Phạm Văn Đồng, ĐH Quảng Nam, CĐ Sư phạm Gia Lai; Lãnh đạo Sở Giáo dục - Đào tạo và Trung tâm giáo dục thường xuyên TP Đà Nẵng, các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, KonTum, Đăclăk, Đăk Nông, Bến Tre. Đặc biệt là lãnh đạo các Công ty, DN, các đơn vị liên kết với trường…Thay mặt lãnh đạo ĐH Đà Nẵng, GS.TS Trương Bá Thanh đã dự phát biểu cùng Hội nghị.

 

Vườn tượng danh nhân trong khuôn viên nhà trường. - Ảnh: T.Ngọc.

 

Sẵn sàng cho một xu thế tất yếu của giáo dục – đào tạo: Chuẩn bị con người cho hội nhập và cạnh tranh

 

“Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay và đặc biệt việc các nước Asean hội nhập trở thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào năm 2015; cùng với việc chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế và sự giao lưu giữa ngày càng mạnh mẽ của các quốc gia, đã đưa đến khả năng đòi hỏi cao hơn và sự chuyển dịch về nguồn lao động như một yêu cầu bắt buộc nhưng mang tính quy luật.

 

Tiến sĩ Trần Hữu Phúc, Hiệu trưởng ĐH Ngoại ngữ. - Ảnh: T.N


Chính vì vậy, tăng cường quan hệ hợp tác giữa Nhà trường với ĐP với các DN trong và ngoài nước ở các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và tuyển dụng là vô cùng quan trọng đối với các cơ sở giáo dục ĐH. Đây cũng chính là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu hội nhập và cạnh tranh với thị trường lao động quốc tế. Ngoài ra, đây cũng là một trong các tiêu chí để đánh giá kiểm định chất lượng trường ĐH” – Tiến sĩ Trần Hữu Phúc, Hiệu trưởng ĐH Ngoại ngữ (ĐH Đà Nẵng) nhấn mạnh.

 

Triển khai thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW của BCH TƯ Đảng về “Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, ĐH Ngoại ngữ – ĐH Đà Nẵng đã và đang nỗ lực triển khai kế hoạch hành động của Nhà trường nói riêng; thực hiện chiến lược phát triển nói chung của toàn ĐH Đà Nẵng. Đặc biệt, là đẩy mạnh phân tầng đào tạo ĐH, tiếp tục thực hiện phân luồng đào tạo sau ĐH và nâng cao hiệu quả các chương trình đào tạo chất lượng cao.

 

Theo Tiến sĩ Dương Quốc Cường - Phó Hiệu trưởng Nhà trường,ĐH Ngoại ngữ xác định vẫn phải tiếp tục đổi mới quản lý, rà soát chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường ứng dụng CNTT, ứng dụng các phần mềm xây dựng nhiều khóa học online của các Khoa, ngành và chuyên ngành. Đến nay Nhà trường đã xây dựng “Chiến lược ứng dụng CNTT trong giảng dạy giai đoạn 2015 - 2020”. Song song, cải tiến quy trình và các phương thức, nội dung đánh giá, đảm bảo chất lượng giáo dục.

 

Còn theo Tiến sĩ Trần Hữu Phúc, Hiệu trưởng, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong GV - Cán bộ viên chức và SV trong những năm gần đây đã trở thành một thế mạnh của Nhà trường. Và hoạt động này đã đạt được những thành công đáng kể. Số lượng GV, các nhà khoa học của trường công bố các công trình nghiên cứu khoa học; công bố các bài báo trên các Tạp chí chuyên ngành trong nước; quốc tế ngày càng tăng.

 

Đoàn TN Nhà trường tiếp sức cho các bạn SV nghèo, vượt khó, học giỏi ngay đầu năm mới.


Nhà trường đã chủ động và tích cực phối hợp để tổ chức nhiều hội thảo lớn như: Hội thảo quốc gia “Diễn ngôn, Tri thức và Văn hoá”; Hội thảo “Ngữ học toàn quốc”; “Xây dựng Chương trình bồi dưỡng GV tiếng Anh và Đào tạo và bồi dưỡng GV tiếng Anh bậc tiểu học khu vực Miền Trung - Tây Nguyên”; Hội thảo quốc tế “Đổi mới phương pháp giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành trong thời đại hội nhập quốc tế”; “Đào tạo Ngoại ngữ căn bản và chuyên ngành ở các trường ĐH và CĐ”; Hội thảo Quốc tế lần III về Giảng dạy tiếng Anh cho người không bản ngữ; Hội thảo Quốc tế Glocall “Ứng dụng công nghệ trong dạy và học Ngoại ngữ 2013”…

 

Đây chính là cơ hội nghiên cứu, trao đổi học thuật cho cán bộ, GV và nguồn tài liệu có hàm lượng trí tuệ cao của các Hội thảo trở thành “nguồn lợi vô giá” mà chính SV, học viên, NCS của Nhà trường thụ hưởng.

 

Ngoài ra, với các chương trình đưa sinh viên đi thực tập ở nước ngoài (Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản, Thái Lan,...), Nhà trường cũng đã tạo cơ hội để sinh viên hội nhập vào môi trường nghiên cứu khoa học, trao đổi học thuật ngay tại trường, viện mà các em đến học.

 

Với mỗi phiên hội thảo, mỗi diễn đàn học thuật đã tạo ấn tượng sâu sắc, tốt đẹp đối với cộng đồng các nhà khoa học trong nước và trên thế giới về Nhà trường và đội ngũ Thầy - Trò của Trường.

 

Nhà trường đã xây dựng “Chiến lược ứng dụng CNTT trong giảng dạy giai đoạn 2015 - 2020.

 

Ảnh trích từ slide báo cáo Tiến sĩ Dương Quốc Cường - Phó Hiệu trưởng Nhà trường.

 

Gần hơn với DN; hiểu hơn nhu cầu của ĐP

 

Cùng với việc tăng cường cơ sở vật chất phục vụ đào tạo (trang bị được hệ thống nhiều phòng học ngoại ngữ hiện đại, phòng học tiếng, phòng máy và phòng tổ chức khảo thí năng lực ngoại ngữ - cơ sở đảm bảo cho việc phát triển và khẳng định vị trí của một trung tâm vùng của Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020) và nghiên cứu; ĐH Ngoại ngữ (ĐH Đà Nẵng) cũng song song đẩy mạnh việc liên kết với ngành giáo dục các ĐP, hợp tác với các DN trong đào tạo và tuyển dụng. Nhà trường đã cử nhiều đoàn cán bộ, GV, SV đến tham quan, thực tập, kiến tập tại các DN trong và ngoài nước; các bộ môn, khoa trong toàn trường đã tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm để lấy ý kiến phản hồi từ các DN và cựu SV...

 

Đội tuyển SV Nhà trường tham dự vòng chung kết cấp khu vực Olimpic tiếng Anh và đã giành giải Nhất, chính thức nhận vé tham dự vòng chung kết cấp quốc gia 2014

 

Hiệu trưởng Nhà trường, Tiến sĩ Trần Hữu Phúc cũng thẳng thắn nhìn nhận: Hiện Nhà trường đã áp dụng chuẩn đầu ra về ngoại ngữ chuyên môn và ngoại ngữ 2 cho SV chính qui của trường trước khi tốt nghiệp theo CV 1774/ Đề án NNQG. Tuy nhiên, chặng đường phía trước của các “sản phẩm đào tạo đặc thù” mà Nhà trường chịu trách nhiệm là môi trường không như những năm đã qua. Chúng tôi ý thức rõ, tính cạnh tranh hết sức gay gắt, bởi yêu cầu của thị trường lao động đang ngày càng khắt khe. Nếu không có đủ năng lực, không tỏ rõ một thực tài, các cử nhân ngoại ngữ vẫn bị loại ra khỏi một chương trình tuyển dụng.

 

Tổ chức Hội nghị “Quan hệ Nhà trường với Địa phương và Doanh nghiệp”, Nhà trường gửi gắm nhiều tâm huyết và mong muốn nhận được những chia sẻ về thuận lợi và khó khăn của SV tốt nghiệp bậc ĐH của Trường ĐH Ngoại ngữ khi tham gia vào thị trường lao động; Những kỹ năng thực tiễn cần trang bị cho một SV tốt nghiệp bậc ĐH để đáp ứng nhu cầu thực tế của công việc; Việc triển khai “Học kỳ DN” thế nào là khả thi và hiệu quả? Tham vấn của các Nhà tuyển dụng về mức độ đáp ứng của SV tốt nghiệp bậc ĐH các chuyên ngành ngoại ngữ hiện nay; Giải pháp kết hợp giữa Nhà trường và DN trong nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội?.

 

Góc nhìn từ DN, từ ĐP về nguồn lực ngày mai

 


Hoan nghênh thiện chí của Lãnh đạo Trường trong quyết tâm thực hiện có hiệu quả mô hình liên kết Nhà trường – ĐP – DN, ông Võ Hoàng Thông (Trưởng Phòng Nhân sự Công ty Công nghiệp Nặng Doosan Vina) chia sẻ: Có lẽ, chưa lúc nào nhà trường khổ tâm, khổ trí như hiện nay. Vừa lo dạy (kiến thức), lo đào tạo (kỹ năng), bày vẽ (kinh nghiệm) cho SV; lại vừa lo đầu ra (liên hệ tìm nơi thực tập, nơi làm việc cho các em khi ra trường).

 

Theo ông Thông, các bạn SV cần chia sẻ “nỗi khổ” này của các Thầy, các Cô. Mà chia sẻ thiết thực nhất là học thật chuyên, thật giỏi một ngoại ngữ mà chính mình đã chọn khi thi vào Trường. Bên cạnh đó, phải rèn các kỹ năng, mà quan trọng nhất là kỹ năng giao tiếp.

 

Bởi với môi trường công việc nào, một cá nhân chỉ là một yếu tố, một mắc xích nhỏ trong cả một dây chuyền, hệ thống. Cá nhân phải tương tác với nhiều bộ phận, lĩnh vực để vừa hoàn thành nhiệm vụ của mình; vừa giúp đỡ đồng nghiệp, cộng sự cùng hoàn thành nhiệm vụ. Yếu về giao tiếp, cá nhân sẽ khó hòa nhập vào môi trường công việc luôn cần trao đổi, hỗ trợ, sẻ chia. Đơn giản nhất, đôi khi nói ra điều gì đó mà người nghe không hiểu, không sẻ chia được theo yêu cầu. Đó là điểu tối kị.

 

Trở lại với một chủ đề mà ICTDANANG đã từng đề cập (chủ đề nằm ngoài Hội nghị trên đây nhưng lại nằm trong mục tiêu và mong đợi của mô hình liên kết Nhà trường – ĐP – DN), đó là "Thực trạng mất cân bằng HDV DL chuyên ngữ đã và đang gây nhiều trở ngại cho sự phát triển của hoạt động DL Đà Nẵng”.

 

Như chúng tôi đã đề cập trong các số báo trước, theo công bố của cơ quan quản lý chuyên ngành, trên địa bàn TP Đà Nẵng hiện có 1.612 HDVDL nội địa lẫn quốc tế, chiếm 10,5% trên tổng số HDVDL nước.

 

Trong 916 HDV quốc tế, thì chiếm đa phần là HDV tiếng Anh (440 người). Ngoài HDV Trung quốc tăng mạnh trong 5 năm trở lại đây (từ 43 HDV năm 2010 tăng lên 192 HDV năm 2014), thì đội ngũ HDV tiếng Hàn chỉ có 4 người, Nhật Bản có 41 người, Thái là 18 người và Lào chỉ có 1 HDV.

 

Điều này đang khá mâu thuẫn khi top 10 thị trường khách quốc tế đến Đà Nẵng nằm ở khu vực Đông bắc Á, dẫn đầu là Trung quốc, Hàn quốc và Nhật Bản. Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và DL TP Đà Nẵng, ông Trần Chí Cường đã phải thốt lên:

 

80% chất lượng Tours phụ thuộc vào năng lực của HDV. Do đó, để giữ vững thị trường cũ và mở rộng thị trường mới, Ngành chúng tôi, đang tìm mọi cách để củng cố lại đội ngũ HDV theo hướng tinh thông và chuyên nghiệp hơn, đồng thời tăng cường hợp tác đa chiều nhằm phát triển thêm đội ngũ HDVDL các chuyên ngữ còn quá hiếm.

 

Du khách thuộc top 10 thị trường khách quốc tế đến Đà Nẵng thăm đường hoa Bạch Đằng Xuân Quý Tỵ. Bao giờ thì tình trạng khan hiếm HDVDL tiếng hiếm được cải thiện?. - Ảnh: T.Ngọc.

 

Chúng tôi trở lại với đề tài này bởi lẽ, việc giải bài toán mất cân bằng HDVDL chuyên ngữ rõ ràng đang trông chờ vào các yếu tố:

 

*Vai trò của cả xã hội (bao hàm gia đình, bạn bè, người thân; cơ quan Truyền thông; nhà trường các bậc học phổ thông) trong công tác định hướng nghề nghiệp, hỗ trợ các em học sinh cuối cấp phân luồng, chọn ngành học hợp lý.

*Vai trò của ĐH Ngoại ngữ (ĐH Đà Nẵng) trong đào tạo (theo nhiều hình thức: chính quy; vừa học - vừa làm) để cân đối lại lực lượng HDVDL chuyên ngữ. Nhà trường hoàn toàn có thể dự báo đón đầu nhu cầu nguồn lực và phân luồng đầu vào.

*Vai trò của ĐP (ở đây là cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành), trong chủ động “đặt hàng” với lò đào tạo; có nghiên cứu dự báo dài hơi và liên thông chia sẻ cùng Nhà trường về dự báo này.

*Và vai trò của rất quan trọng của DN khi tham gia vào quy trình đào tạo này.

 

 

Nhiều DN đã tận tình chia sẻ với Nhà trường gánh nặng đào tạo thông qua hỗ trợ học bổng (ảnh); tài trợ các sự kiện phục vụ đào tạo; tiếp nhận SV đến thực tập. - Ảnh: T.Ngọc.

 

Tham dự Hội thảo “Xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm Dịch vụ - Du lịch Quốc tế” (diễn ra hôm 25/10 vừa qua) với tư cách là một diễn giả; Tổng giám đốc Tập đoàn Indochina Capital, ông Peter R. Ryder trong tham luận “Giải pháp xây dựng các điểm đến cho du khách nước ngoài tại Đà Nẵng”, đã lưu ý rằng, trong nhóm các giải pháp, phải quan tâm ở mức độ “tập trung” đối với giải pháp “Phát triển nguồn nhân lực”.

 

“Với hơn 15.000 phòng khách sạn tại khu vực Đà Nẵng/Huế/Hội An, và sự tăng trưởng lượng khách quốc tế hơn 200.000 trong vòng 5 năm tới, việc phát triển nguồn nhân lực bao gồm đào tạo nghề và ngoại ngữ cho nhân viên đóng vai trò quan trọng thiết yếu.
 

Việc thành lập thêm nhiều trường đào tạo nghề hiệu quả cao, trong đó hỗ trợ SV vay vốn trả học phí và cho phép họ hoàn vốn khi đã có việc làm ổn định trong ngành du lịch là một giải pháp dài hạn nhằm cải thiện tiêu chuẩn dịch vụ trong vùng và giúp ngành du lịch ngày càng tăng cao danh tiếng và lợi nhuận kinh tế” - ông Peter R. Ryder nhấn mạnh.

 

Và thực trạng thiếu HDVDL tiếng hiếm đã cho thấy “nguồn nhân lực bao gồm đào tạo nghề và ngoại ngữ cho nhân viên đóng vai trò quan trọng thiết yếu”.

 

Cũng là nhà nghiên cứu có tham luận được chọn đăng trong Kỷ yếu Hội thảo nói trên, GV Thu Giang (GV khối ngành Kinh tế - Trường CĐ Lương thực Thực phẩm Đà Nẵng thuộc Bộ NN & PTNT) đã có đề xuất khá cụ thể với các DN dịch vụ DL – những đơn vị sẽ sử dụng chính sản phẩm từ nhà trường.

 

Theo đó, chính DN phải xác định lại mục tiêu, căn cứ và các bước xây dựng chương trình đào tạo đội ngũ nhân viên theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề của Công ty mình. Mà muốn vậy thì phải đổi mới tư duy và nhận thức, quan điểm của chính lãnh đạo DN về công tác đào tạo theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề DL Việt Nam.

 

Lãnh đạo DN cần nghĩ đến biện pháp hữu hiệu nhất để nhân rộng đội ngũ đào tạo viên ngay trong đơn vị (nhân viên giỏi - nhân viên có kinh nghiệm thực tiễn rất phong phú - nhân viên có khả năng truyền lửa - nhân viên đã qua nhiều chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ).

 

Bởi họ chính là người có đủ năng lực duy trì chuẩn tay nghề và phát triển, nâng cao tay nghề cho đội ngũ. Ngoài ra, lãnh đạo DN phải tạo động lực cho đội ngũ nhân viên của Công ty khi tham gia các chương trình đào tạo cụ thể, rất cần thiết và rất nên có các chính sách, chế độ đãi ngộ cho những nhân viên - HDV tích cực tham gia quá trình đào tạo, hay tự học tập, tự nâng cao năng lực.

 

Cô Thu Giang - Giảng viên khối ngành Kinh tế, trường CĐ Lương thực Thực phẩm Đà Nẵng, Bộ Nông nghiệp - Phát triển Nông thôn.

Tác giả tham luận khoa học: "Đà Nẵng – Phát triển nguồn nhân lực Du lịch với tiêu chuẩn kỹ năng Nghề Du lịch Việt Nam (VTOS)" tại Hội thảo “Xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm Dịch vụ - Du lịch Quốc tế” 

 

“Tôi cho rằng, bước phối kết hợp với các tổ chức đào tạo bên ngoài Công ty (Nhà trường bậc CĐ - ĐH, hay một trường Nghề chẳng hạn) để xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn kỹ năng Nghề DL Việt Nam là hết sức quan trọng.

 

Thậm chí DN phải chủ động và tích cực trong hợp tác với các cơ sở đào tạo nhằm hỗ trợ, tài trợ cho một số dự án đào tạo phát triển nhân lực DL mà cơ sở đào tạo đó đang triển khai, hoặc triển khai theo đặt hàng từ một DN. Trong tầm nhìn xa của lãnh đạo DN, không thể thiếu chính sách thích hợp để tạo môi trường học tập thực tế, sẵn sàng đón SV của các cơ sở đào tạo có liên quan về DL trên địa bàn đến ngay DN mình để thực tập”.

 

Quan điểm trên cho thấy, nguồn lực ngày mai của DN, phải được ươm mầm từ ghế giảng đường và lớn dần thành cây từ thực tế thực tập, nghiên cứu gắn với thực tiễn của hoạt động sản xuất kinh doanh, cùng ứng dịch vụ.

 

Cũng trong tham luận của mình, Giảng viên Thu Giang phân tích thêm:

Theo thống kê của Ban chỉ đạo Quốc gia về đào tạo theo nhu cầu xã hội cả nước hiện có 284 cơ sở tham gia đào tạo DL, gồm 62 trường ĐH, 80 trường CĐ (trong đó có 8 trường CĐ Nghề), 117 trường trung học chuyên ngành (có 12 trường Nghề).

 

Nhìn chung, chương trình, giáo trình đào tạo ở các trường đã từng bước được chuẩn hóa, khắc phục phần nào tình trạng dạy "chay," học "chay." Tuy nhiên, hầu như mỗi GV, mỗi cơ sở đào tạo chỉ cố gắng vận dụng những gì có sẵn để phục vụ đào tạo, mà chưa có chương trình thống nhất mang tính chuyên nghiệp.

 

Dưới góc độ giữa các cơ sở đào tạo, vẫn còn sự chênh lệch về chất lượng đào tạo nhân lực chuyên ngành DL giữa các trường nghề với các trường không thuộc khối này, giữa các trường công lập, với trường ngoài công lập.

 

Nguồn lực ngày mai của DN, phải được ươm mầm từ ghế giảng đường và lớn dần thành cây từ thực tế thực tập, nghiên cứu gắn với thực tiễn của hoạt động sản xuất kinh doanh, cùng ứng dịch vụ.

 

Dễ thấy nhất là độ vênh trong tiêu chuẩn bằng cấp giữa HDVDL quốc tế và nội địa.

 

Nếu muốn trở thành HDVDL quốc tế, SV phải hội tụ đủ nhiều điều kiện trình độ ĐH, có bằng tiếng Anh chuyên ngành DL. Trong khi đó, HDVDL nội địa chỉ cần tốt nghiệp THPT, học thêm các khóa đào tạo ngắn hạn 3 tháng hay 6 tháng về nghiệp vụ DL.Rõ ràng, cần phải thống nhất các tiêu chí về đào tạo nguồn nhân lực cho một chuyên ngành kinh tế rất đặc thù. Muốn có được lượng SV tốt nghiệp đồng đều về trình độ, năng lực; đảm bảo đáp ứng được đòi hỏi của công việc, chính Ngành DL (bao gồm cơ quan quản lý Nhà nước và DN) phải hợp tác cùng nhau đưa ra các tiêu chí chung về đào tạo.

 

Đây là cơ sở để các trường dựa vào đó mà hoàn chỉnh nội dung đào tạo. Và sau này, sản phẩm của cả quá trình đào tạo đi tìm việc làm sẽ không chịu tai tiếng “dạy cái gì mà không dùng được; cái cần thì không dạy, dạy cái không cần, toàn lý thuyết suông, không có kỹ năng thực hành”.

 

Từ các phân tích trên đã cho thấy, để Nhà trường làm tốt vai trò đào tạo, không chỉ DN, mà ngay cả cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành cấp địa phương, cấp Bộ và cao hơn nữa phải “nhận thấy vai trò và lợi thế của nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự phát triển của ngành DL nói riêng và sự phát triển kinh tế đất nước nói chung, sớm có những giải pháp cụ thể để phát triển bền vững nguồn nhân lực”.

 

Theo ictdanang.vn

Đại học Đà Nẵng - http://www.udn.vn/

Từ khóa      
Gửi cho bạn
Email người gửi:*

Người nhận:

Email người nhận:*

Tiêu đề:*
//
Nội dung:


    
In Bài
//
//
TIN MỚI THÔNG TIN TUYỂN SINH THÔNG TIN CÁN BỘ
TIÊU ĐIỂM SINH VIÊN
HÌNH ẢNH