* Đề tài do Nhóm kỹ sư-chuyên viên Trường CĐ Công nghệ (ĐH Đà Nẵng) và Trung tâm tiết kiệm năng lượng và tư vấn chuyển giao công nghệ (Sở KH&CN TP) phối hợp thực hiện.

 

Nhằm khắc phục một số nhược điểm trong khâu bảo quản sanh đánh bắt, giảm số lượng hư hao, tăng chất lượng thủy hải sản (THS) Việt Nam trong xuất khẩu cũng như tiêu dùng nội địa – nhất là vệ sinh an toàn thực phẩm -; Trung tâm (TT) tiết kiệm (TK) năng lượng (NL) và tư vấn (TV) chuyển giao công nghệ (CGCN) thuộc Sở Khoa học& Công nghệ TP Đà Nẵng đã triển khai đề tài “Nghiên cứu, lắp đặt hệ thống lạnh cho tàu đánh cá xa bờ”.

 

Đề tài do TS.Phan Quý Trà-Trưởng phòng, Phòng Quản lý khoa học-Hợp tác quốc tế trường Cao đẳng Công nghệ (ĐH Đà Nẵng) giữ vai trò Chủ nhiệm.

 

 

Việc trang bị hệ thống bổ sung lạnh cho các hầm cá bên cạnh phương pháp sử dụng đá vảy từ nước ngọt truyền thống là hết sức cần thiết để nâng cao năng suất đánh bắt, giảm tổn thất sản phẩm sau đánh bắt.

 

Bởi nhìn chung, cho đến nay, các tàu cá truyền thống của ngư dân ta (tại Miền Trung nói riêng và duyên hải cả nước nói chung) đều phổ biến là loại có công suất vừa và nhỏ.

 

Những năm tới, nếu tranh thủ được các kênh hỗ trợ hoặc có điều kiện thuận lợi, bà con ngư dân nên tiếp cận và triển khai nâng cấp công suất, kết cấu tàu, đồng thời lắp đặt mô hình bảo quản lạnh hiệu quả hơn để tăng năng suất, lợi nhuận mỗi chuyến ra khơi.

 

Trước mắt, đối với tàu có công suất vừa và nhỏ, thì hệ thống bổ sung lạnh của đề tài “Nghiên cứu, lắp đặt hệ thống lạnh cho tàu đánh cá xa bờ” đã đưa ra giải pháp bảo ôn phù hợp trong thiết kế kỹ thuật và lựa chọn tốt vật liệu bảo ôn. Giá thành của cả hệ thống (thiết bị và công lắp đặt) cũng phù hợp với điều kiện đầu tư của chủ tàu.

 

Phó trưởng phòng, Phòng TKNL, TT.TKNL & CGCN (thuộc Sở KH&CN TP Đà Nẵng),

Thạc sỹ Phạm Phú Thanh Sơn. 
 

 

“Cùng với các địa phương duyên hải, ngư dân Đà Nẵng ngày càng nhận được nhiều hơn sự quan tâm, hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, an tâm bám ngư trường, bám biển, tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đến nay, toàn TP Đà Nẵng có 1.174 tàu có công suất từ 90 CV trở lên, trong đó có đến 300 tàu đánh bắt xa bờ có công suất trên 400 CV. Nghề đánh bắt THS của Đà Nẵng vừa mang giá trị kinh tế cao, ngư dân ngày càng vươn ra ngư trường xa, trong đó có ngư trường Hoàng Sa, như vậy cững vừa góp phần thể hiện chủ quyền của đất nước ta đối với cụm đảo này.

 

Tuy nhiên, về trang thiết bị nghề nghiệp, kết cấu hầm bảo quản trên tàu cá của ngư dân đã không được bảo ôn tốt và quá trình bảo quản lạnh hiện nay của bà con vẫn theo cách thức truyền thống. Đó là mang theo đá (dạng cây) và ướp đá bằng công thức giản đơn 1 lớp cá-1 lớp đá. Chính vì thế lượng tổn thất sau đánh bắt còn ở mức cao (trên 20%), cộng với một số cách thức bảo quản sau đánh bắt lẽ ra không nên áp dụng, vẫn đành phải áp dụng trên tàu, kéo theo giá trị sản phẩm THS không còn tương xứng và nguồn lợi đánh bắt được” - TS.Phan Quý Trà chia sẻ.

 

TS.Phan Quý Trà phát biểu khai mạc Hội thảo (diễn ra sáng nay, 2/4/2015).-Ảnh: T.Ngọc.

 

Nhằm thiết thực hỗ trợ ngư dân Đà Nẵng trong thực hiện bảo quản sản phẩm đánh bắt sau thu hoạch, Sở Khoa học & Công nghệ TP Đà Nẵng đã có quyết định phê duyệt số 174/QĐ-SKHCN, triển khai thực hiện đề tài “Nghiên cứu, lắp đặt hệ thống lạnh cho tàu đánh cá xa bờ”, đồng thời giao TT.TKNL & CGCN (thuộc Sở) chủ trì thực hiện.

 

Là người trực tiếp thực hiện, Chủ nhiệm đề tài, TS.Phan Quý Trà cho biết, ông đã cùng các cộng sự khảo sát một số mô hình đã có ở địa phương bạn (một ở cực nam Trung bộ và một 1 ở cực nam Nam bộ). Bên cạnh các ưu điểm của hệ thống (đã áp dụng ở tỉnh bạn) có cấu tạo gọn nhẹ, không chiếm diện tích và gây cản trở các hoạt động nhập-xuất sản phẩm trong hầm bảo quản; tiết kiệm đá (giảm bớt số đá cây phải mang theo tàu), nhờ vậy cũng bớt tốn nhiên liệu; thời gian bảo quản được lâu (khoảng 1 tháng trên biển), mang về bờ, đưa ra chợ hay vào nhà hàng, sản phẩm vẫn tươi lâu một thời gian, bán được giá cao hơn bình thường. Lượng tổn thất, hao hụt có nhưng ít.

 

Tuy nhiên,khi xét đến mẫu số chung về hạn chế, bất cập của các hệ thống lạnh (được lắp đặt trên tàu đánh bắt) khi phải làm việc trên biển dài ngày, mô hình ở địa phương bạn vẫn chưa tránh được tình trạng oxy hóa mạnh trong môi trường muối biển lan tỏa trong không khí đậm đặc và khả năng chịu được va đập (không móp méo, biến dạng) của thiết bị trong hệ thống. Quan trọng hơn, đó là vấn đề hiệu suất làm lạnh của hệ thống. Các mô hình đã có chưa giải quyết được bài toán làm sao để hệ thống hoạt động ổn định (chủ yếu do chưa hoàn thiện quy trình vận hành).

 

Báo cáo tham luận của Thạc sỹ Hồ Quốc Sơn. -Ảnh: T.N.

 

Đề tài “Nghiên cứu, lắp đặt hệ thống lạnh cho tàu đánh cá xa bờ” đã có những cải tiến hết sức quan trọng.

 

Thạc sỹ Hồ Quốc Sơn phân tích thêm:

Để thiết kế một hệ thống bảo quản lạnh, ngoài các yếu tố vật liệu cấu tạo của hầm phải đảm bảo các yếu tố cách nhiệt, giảm tổn thất lạnh ra môi trường thì còn một yếu tố quan trọng nữa, đó là vật liệu phải có khả năng chống ăn mòn, đặc biệt là chịu được môi trường biển (tính oxy hóa cao hơn thông thường).

 

Chúng tôi đã nghiên cứu và đề xuất sử dụng vật liệu Inox 304 dầy 2mm có khả năng chống chịu với oxy hóa cao trong môi trường biển, đây là vật liệu chính được sử dụng để làm vách, trần hầm lạnh với vật liệu có độ bền cao.

 

Các tác giả cũng đề xuất các giải pháp cải tạo lại hầm lạnh truyền thống trên tàu ngư dân theo các bước:

* Lựa chọn vật liệu làm hầm mới: Thay thế vật liệu cách nhiệt hiện tại bằng vật liệu Inox và kết hợp với phun lớp foam cách nhiệt bằng vật liệu bột xốp (Polyurethane) có độ dày thích hợp xung quanh bề mặt hầm Inox làm nhiệm vụ cách nhiệt nhiều lớp. Lớp vách Inox sẽ được gá lên bề mặt hầm bằng gỗ (của tàu hiện tại) bằng đinh ốc cỡ lớn, xung quanh sẽ có nhiều nẹp gân để cố định hầm.

 

* Với cách thức này so với ban đầu thì sẽ tạo thành nhiều lớp vách cách nhiệt (lớp gỗ thành tàu, lớp Foam PU, lớp Inox) sẽ đảm bảo giảm thiểu thất thoát nhiệt ra ngoài môi trường, giảm nước đá bị tan chảy so với trước đây và đảm bảo chất lượng THS an toàn, nguyên vẹn.

 

Đưa đá cây (vệt màu trắng trong ảnh) lên tàu trước khi ra khơi đánh bắt (ảnh trên).Đá cây được bào (xay) nhuyễn và đưa xuống hầm lạnh, phục vụ bảo quản sau thu hoạch (ảnh tiếp theo).

Ảnh: T.Ngọc (ghi nhận tai Cảng cá Thọ Quang-Đà Nẵng).

 

 

Phần quan trọng trong kết cấu hệ thống lạnh mà TS. Phan Quý Trà, Thạc sỹ Hồ Quốc Sơn và các cộng sự đề xuất và có cách xử lý sáng tạo đó là bố trí thiết bị bay hơi (có 3 modul, mỗi modul gồm 22 ống đồng Ø12, bước ống 80mm, kích thước một modul: 1.22 x 2.4 m, diện tích trao đổi nhiệt: 2.9 m2). Do điều khiện không gian máy tàu khá chật hẹp nên việc bố trí thiết bị bay hơi gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên Nhóm nghiên cứu đã đưa ra được phương án bố trí thiết bị gọn gàng, không chiếm nhiều diện tích, giảm chiều dài đường ống, tiết kiệm chi phí đồng thời vẫn đảm hệ thống lạnh hoạt động hiệu quả và ổn định lâu dài trên biển.

 

Trong thiết kế thiết bị bay hơi và hầm bảo quản lạnh với yêu cầu công suất nhiệt cần thiết, nhóm đã đề xuất trao đổi nhiệt với môi chất mới R134a (không sử dụng R12, R21 và R22 là những môi chất góp phần phá hủy tầng ozon của khí quyển, gây hiệu ứng nhà kính, dẫn đến biến đổi khí hậu).

 

“Máy nén lạnh trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi chọn máy nén lạnh kiểu hở, bởi trên tàu thì không thể có điện để duy trì hoạt động liên tục của máy. Phương pháp truyền động lực chúng tôi khai thác truyền động từ trục chính của động cơ máy tàu để vận hành máy nén lạnh. Về phương pháp truyền nhiệt trong hệ thống, chúng tôi quyết định lựa chọn phương pháp đối lưu tự nhiên với chất tải lạnh, sử dụng dầu truyền nhiệt “Shell-Thermia Oil B” – Thạc sỹ Nguyễn Thanh Trí thuộc Nhóm nghiên cứu chia sẻ thêm.

 

Thay mặt Nhóm Nghiên cứu, Thạc sỹ Nguyễn Thanh Trí chia sẻ các thông tin về đề tài.

-Ảnh: T.N

 

Mô hình ứng dụng “Nghiên cứu, lắp đặt hệ thống lạnh cho tàu đánh cá xa bờ” trên đây đã được lắp đặt và vận hành thử nhiệm trên tàu cá DNA 90621 TS của ông Đồng Văn Đền (phường An Hải Bắc- quận Sơn Trà) từ tháng 9/2014. Ngư trường chính của tàu cá DNA 90621 TS là Hoàng Sa.

 

Đến nay ông Đền đã có 3 chuyến đánh bắt xa bờ (mỗi chuyến khoảng 20 ngày) và 1 trong 5 hầm chứa THS của ông, hệ thống lạnh được vận hành thực nghiệm đề tài nghiên cứu trên.

 

“Nói chung so với cách bảo quản truyền thống của ngư dân mình, cách mới tốt hơn. Lượng cá tươi hơn, số cá hư hao do lớp đá+cá ở trên đè xuống lớp dưới cũng ít hơn. Ước tính sơ bộ, nếu tàu của tôi áp dụng hết cho cả 5 hầm bằng cách bảo quản mới này, ra khơi, giảm bớt lượng đá cây mang theo, dầu chạy tàu cũng bớt lại (do ít vận chuyển đá); số THS đánh bắt được cũng giảm hư hao, mang về bờ, lượng còn tươi nhiều hơn… thì mỗi chuyến tăng thêm lãi ròng chừng 10 đến 20 triệu” - ông Đồng Văn Đền cho biết.

 

Vào ngày 16/2 âm lịch sắp đến (tức ngày 4/4/2015), tàu DNA 90621 TS lại ra khơi, thẳng tiến ngư trường Hoàng Sa.

 

Ông Đồng Văn Đền (người mặc áo sẫm màu, thứ 2 từ trái sang) tại hội thảo sáng nay (2/4).

 

Cũng từ thực tiễn vận hành hệ thống trên tàu DNA 90621 TS, góp ý cho mô hình hệ thống lạnh mới, ông Đền đã bày tỏ chân thành: Đề xuất cùng Ban Chủ nhiệm đề tài cho lắp thêm một giàn lạnh đối xứng với giàn lạnh đã lắp thử nghiệm vừa qua. Như vậy từ cả hai phía vách hầm, hơi lạnh sẽ tỏa đều, đảm bảo độ lạnh cho cả hầm. Thực tế hiện nay độ lạnh chưa đều cho cả hầm. Tuy không làm THS hư hỏng, nhưng sẽ tốt hơn nếu cho độ lạnh mạnh thêm lên và đều khắp cả hầm.

 

Về vấn đề này, theo TS.Phan Quý Trà, Chủ nhiệm đề tài cho biết, do đây là mô hình thử nghiệm đầu tiên nên bộ phận kỹ thuật chỉ lắp đặt hệ thống tỏa nhiệt ở 1 phía vách hầm. Nếu sau này áp dụng rộng rãi sẽ cho áp dụng cả 4 vách để đảm bảo hầm được đông lạnh 100%. Ngoài ra, TS. Trà cũng cho biết, nếu áp dụng đại trà cho các tàu của TP thì chi phí làm lạnh này sẽ giảm đáng kể bởi thiết bị sẽ được sản xuất hàng loạt (còn đây mới chỉ mang tính thí nghiệm mà thôi).

 

Thân phụ ông Đồng Văn Đền, bác Đồng Văn Ơn cho biết, gia đình bác đã có 5 đời đi biển và các tàu cá của gia đình bác đều đã gắn bó lâu năm với ngư trường Hoàng Sa. Bác Ơn cũng cho biết, đây là lần đầu tiên, tàu cá của gia đình bác, lắp đặt hệ thống lạnh bổ sung theo công nghệ mới.

-Ảnh: T.N.

 

Ông Đặng Duy Hải, Chi cục trưởng Chi Cục thủy sản (Sở NN&PTNT) TP Đà Nẵng nhìn nhận: Công nghệ do Nhóm nghiên cứu của TS.Phan Quý Trà đề xuất đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện hơn, cải tiến và khắc phục được các hạn chế so với công nghệ làm lạnh của một số địa phương bạn được tham khảo.

 

Với ngư dân chúng ta, công nghệ nào lắp đặt gọn gàng hơn, vận hành đơn giản hơn và tiết kiệm hơn chi phí sản xuất thì nhất định họ sử dụng ngay. Do đó, Ban Chủ nhiệm đề tài và Sở Khoa học-Công nghệ TP cần đánh giá thêm về hiệu quả vận hành, thời gian khấu hao, chi phí sử dụng để thông tin chi tiết đến các đối tượng cần dùng.

 

Trên cơ sở đó sẽ tuyên truyền rộng rãi đến ngư dân, trước mắt là các tàu lưới vây, các nhà máy chiến biến thủy sản cũng như đến các cơ quan, đơn vị quản lý Nhà nước có liên quan, qua đó góp phần nâng cao nhận thức về công nghệ bảo quản sau thu hoạch cũng như các chi phí, tiết kiệm khi sử dụng công nghệ này.

 

Ông Hải cũng bày tỏ tin tưởng, đây sẽ là công nghệ phù hợp với xu thế tương lai, nhất là trong điều kiện hiện nay các mặt hàng thủy sản của Việt Nam xuất đi các nước bị quá nhiều rào cản, trong đó có rào cản chất lượng; trong khi công nghệ này sẽ góp phần nâng cao chất lượng bảo quản thủy sản của ngư dân nên chắc chắn sẽ được chấp nhận.

 

Phó trưởng phòng, Phòng TKNL, TT.TKNL & CGCN (thuộc Sở KH&CN TP Đà Nẵng), Thạc sỹ Phạm Phú Thanh Sơn khẳng định:

 

Việc trang bị hệ thống bổ sung lạnh cho các hầm cá bên cạnh phương pháp sử dụng đá vảy từ nước ngọt truyền thống là hết sức cần thiết để nâng cao năng suất đánh bắt, giảm tổn thất sản phẩm sau đánh bắt.

 

Bởi nhìn chung, cho đến nay, các tàu cá truyền thống của ngư dân ta (tại Miền Trung nói riêng và duyên hải cả nước nói chung) đều phổ biến là loại có công suất vừa và nhỏ.

 

Những năm tới, nếu tranh thủ được các kênh hỗ trợ hoặc có điều kiện thuận lợi, bà con ngư dân nên tiếp cận và triển khai nâng cấp công suất, kết cấu tàu, đồng thời lắp đặt mô hình bảo quản lạnh hiệu quả hơn để tăng năng suất, lợi nhuận mỗi chuyến ra khơi.

 

Trước mắt, đối với tàu có công suất vừa và nhỏ, thì hệ thống bổ sung lạnh của đề tài “Nghiên cứu, lắp đặt hệ thống lạnh cho tàu đánh cá xa bờ” đã đưa ra giải pháp bảo ôn phù hợp trong thiết kế kỹ thuật và lựa chọn tốt vật liệu bảo ôn. Giá thành của cả hệ thống (thiết bị và công lắp đặt) cũng phù hợp với điều kiện đầu tư của chủ tàu.

 

Theo Thạc sỹ Phạm Phú Thanh Sơn, trên thế giới, hiện có rất nhiều phương pháp bảo quản sau đánh bắt như công nghệ làm lạnh nước biển, sử dụng nước biển để sản xuất đá vảy ngay trên tàu, công nghệ sử dụng đá khô CO2, hay bơm dung dịch băng lạnh…

 

Những công nghệ này được xếp vào diện tối ưu trong đảm bảo nguyên liệu THS luôn được bảo quản tốt nhất. Cá không bị bể ruột, mực không bị đỏ và tróc da, giảm cân, giá trị của THS đánh bắt được không hề suy giảm.

 

Tuy nhiên, các công nghệ này có chi phí đầu tư cao, thậm chí chi phí đầu tư và bảo trì rất lớn do tác động quá trình oxy hóa (sản xuất đá vảy bằng nước biển). Lại có công nghệ bắt buộc phải nâng cao mức phòng chống cháy nổ, đó là sử dụng đá khô CO2. Trong quá trình tạo đá khô, trên tàu phải sẵn sàng các phương án ứng cứu cháy nổ, người lao động tham gia trực tiếp vào quá trình tạo đá khô hay vận chuyển đá khô xuống hầm phải được bảo hộ an toàn, đề phòng bỏng/cháy da hay khó thở. Và các công nghệ hiện đại này chỉ phù hợp với tàu đánh cá công suất lớn, có kích thước hầm chứa lớn và chắn chắn. Nói chung công nghệ phù hợp cho quy mô khai thác đánh bắt công nghiệp.

 

Công nghệ lạnh bổ sung như đề xuất là hoàn toàn phù hợp nhiều mặt khi càn trang bị, nâng cấp hầm bảo quản đối với các tàu đánh cá quy mô vừa (CS > 400CV).

 

Thạc sỹ Phạm Phú Thanh Sơn chia sẻ thông tin về công nghệ bảo quản hiện nay.

-Ảnh: T.N.

 

Một tin vui và rất vui cho Nhóm Nghiên cứu, tại phiên hội thảo diễn ra sáng nay, 2/4/2015, ông Trần Văn Mười (trú ở Tổ DP 22B1 phường Mân Thái), người vừa được UBNDTP Đà Nẵng phê duyệt hỗ trợ đóng tàu sắt theo Nghị định 67, đã lên tiếng ủng hộ.

 

Ông Mười cho hay, ông đang tìm đối tác lắp đặt hệ thống hầm lạnh cho tàu sắt này. Nhưng qua một số đối tác, ông thấy công nghệ chưa phù hợp hoặc chi phí quá lớn. Và ông chính thức yêu cầu Ban Chủ nhiệm đề tài hỗ trợ cho ông công nghệ này hoặc trực tiếp khảo sát bản vẽ của Nhà máy đóng tàu X20 (Sông Thu) - đơn vị đã nhận đóng tàu sắt cho ông - để thiết kế và lắt đặt phù hợp cho tàu sắt của ông một hệ thống hầm lạnh như đề tài đã thực nghiệm tại hầm tàu ông Đền.

 

Cận cảnh thiết bị của hệ thống cấp lạnh bổ sung trên tàu DNA 90621 TS.

 

Theo ictdanang.vn

Đại học Đà Nẵng - http://www.udn.vn/

Từ khóa      
Gửi cho bạn
Email người gửi:*

Người nhận:

Email người nhận:*

Tiêu đề:*
//
Nội dung:


    
In Bài
//
//
TIN MỚI THÔNG TIN TUYỂN SINH THÔNG TIN CÁN BỘ
TIÊU ĐIỂM SINH VIÊN
HÌNH ẢNH