Làm việc cho NASA trong 10 năm, sáng chế một tay người máy đầu tiên để xây dựng trạm không gian vũ trụ; từng được Tổng thống Mỹ bổ nhiệm vào Ban giám đốc Quỹ Giáo dục Việt Nam, GS Charles Nguyễn Cường vừa nhận giải thưởng Di sản châu Á năm 2014. Người đàn ông 43 năm xa xứ chia sẻ những yếu tố chính cho các thành công của mình ở xứ người là sự cần cù, tính thành thật và lòng vị tha.

 

GS Charles Nguyễn Cường, người Việt, Mỹ

GS Charles Nguyễn Cường khai mạc một ngày lễ của Catholic University of America - Washington D.C.

 

13 năm qua, ông là trưởng khoa ở Trường ĐH Công giáo Hoa Kỳ - Catholic University of America (CUA) - tại thủ đô Washington. Ông cũng người Mỹ gốc Việt đầu tiên (và hiện là một trong hai người) giữ chức Khoa trưởng tại một trong những đại học của Mỹ.

 

Từng nhận nhiều giải thưởng về ngành công nghệ kỹ thuật, GS Nguyễn Cường đóng góp ở các lĩnh vực vũ trụ, toán học, y khoa... mà một trong các công trình quan trọng là kiểm soát người máy trong công nghệ chế tạo.

 

Mới đây nhất, cuối tháng 11/ 2014, tại California GS Nguyễn Cường đón nhận Giải thưởng Di sản châu Á năm 2014 (The 2014 Asian Heritage Award).

 

Lời giải thích của Hội đồng xét thưởng nói rõ “vì người được giải thưởng không những vượt thắng các hậu quả chiến tranh VN mà còn dùng những cơ hội đó để làm tấm gương về thành tựu của riêng mình, và giúp những người khác cũng được các cơ hội thành công như mình.”

 

Giải thưởng này vinh danh những đóng góp của GS Cường trong các chương trình giáo dục giữa Hoa Kỳ với các nước châu Á như Đài Loan, Hồng Kông, Ấn Độ, và đặc biệt là Việt Nam.

 

Đây là lần thứ hai ông nhận giải thưởng của cộng đồng khoa học và giáo dục Hoa Kỳ dành cho các nhà khoa học, nhà giáo dục có cống hiến đặc sắc trong lĩnh vực của mình, tạo ảnh hưởng trong và ngoài nước Mỹ.

 

"Di sản" của Charles Nguyễn Cường

 

        GS Charles Nguyễn Cường, người Việt, Mỹ        

GS Charles Nguyễn Cường (ngồi, trái) trong lễ ký chương trình hợp tác giữa Đại học CUA và Đại học Đà Nẵng


Sinh trưởng ở Đà Nẵng, ngay từ nhỏ cậu bé Cường đã nổi danh về thành tích học hành.

 

Năm 1971, chàng thanh niên 16 tuổi vừa tốt nghiệp trung học đã được nhận học bổng du học ở Đức, rồi tốt nghiệp cử nhân Điện tại đó.

 

Năm 1978, anh sang Mỹ định cư, và vượt lên từng nấc thang học vấn: học Cao học; Tiến sĩ hạng ưu Đại học George Washington.

 

Kể từ 1982 đến nay, ông làm việc tại Đại học CUA, lần lượt các cương vị: Trợ lý giáo sư, Phó giáo sư, Giáo sư; và từ 2001 tới nay với nhiệm kỳ thứ tư là Khoa trưởng Trường Kỹ sư (Dean of School of Engineering).

 

Giải thưởng Di sản châu Á năm 2014 dành cho GS Nguyễn Cường ở hai lãnh vực khoa học và giáo dục tại Hoa Kỳ, nhất là về trao đổi giáo dục, hợp tác khoa học công nghệ với VN trong nhiều năm qua. Điều đó thể hiện qua hai chương trình chính như sau…

 

Chương trình 2+2 cho phép sinh viên VN, sau khi hoàn thành 2 năm đầu ở một trường đại học mà CUA cộng tác, sẽ đến CUA học tiếp 2 năm cuối và nhận bằng kỹ sư của CUA. GS Cường đã chủ trì nhiều hợp đồng với các trường như ĐH Bách khoa TP.HCM, ĐH Quốc tế, ĐH Bách khoa, ĐH Đà Nẵng. Hiện đã có gần 70 sinh viên VN đã và đang hoàn tất chương trình này. Khoảng nửa số đó sau khi nhận bằng cử nhân của CUA đã ở lại CUA làm tiếp thạc sĩ, tiến sĩ. Số còn lại thì nhận được các học bổng rất tốt tại những đại học hàng đầu ở Mỹ như MIT, Stanford, Illinois, California, San Diego, và họ đang theo đuổi chương trình thạc sĩ, tiến sĩ tại đó.

 

GS Cường và cộng sự của CUA cũng đã thăm một số trường đại học kỹ thuật ở Hà Nội và đang xúc tiến các chương trình cộng tác.

 

Còn Chương trình học bổng bán phần thì cho những sinh viên VN sau khi có bằng cử nhân các cơ hội đến học ở CUA để lấy bằng thạc sĩ, tiến sĩ.

 

3 nhược điểm của giáo dục Việt Nam

 

GS Cường chia sẻ sự khó khăn trong hơn 40 năm ở Đức và Hoa Kỳ: "Tôi thấy khó khăn nhất là vấn đề ngôn ngữ và khả năng hội nhập xã hội nước ngoài. Điều đó dẫn tới khó khăn cho việc thăng chức trong đại học và giữ vai trò lãnh đạo. Nói chung, người bản xứ thường nghĩ các việc đó khó có thể đến với người ngoại quốc. Trên thực tế, tôi phải làm việc gấp hai, thậm chí gấp ba, so với các đồng nghiệp".

 

Theo ông, ba yếu tố chính cho các thành công của mình là sự cần cù, tính thành thật và lòng vị tha.

 

“Với chút kinh nghiệm cá nhân có được trong 10 năm làm việc với các đại học ở VN", vị GS Việt kiều chỉ ra 3 nhược điểm:

"Giảng viên thường dạy theo phương pháp cách đây 20 năm; phần đông có thể là dạy bán thời gian nên không có thời gian soạn bài, nghiên cứu; Mức độ lương bổng cho giảng viên rất thấp nên không thể toàn tâm lo giảng dạy; Khác ở Mỹ, bắt buộc các giáo sư, giảng viên phải nghiên cứu, xuất bản bài báo các tạp chí, ở VN không đòi hỏi vậy dẫn đến trình độ chung của giảng viên không được tiến triển".

 

Giữ nếp nhà "thưa, gửi"

 

GS Charles Nguyễn Cường, người Việt, Mỹ

GS Charles Nguyễn Cường (trái) cùng phu nhân nhận Giải thưởng “2014 Asian Heritage Award”.


Từng tham gia những ban nhạc rock khi còn ở VN và ở Đức, ông hiện vẫn thích chơi guitar, thích ca hát. Ông còn chơi giỏi các môn thể thao như bóng bàn, trượt tuyết, bơi, quần vượt; riêng về bóng bàn thì đã giành giải vô địch trường Thiên Hựu năm 1971 và trường đại học ở Tây Đức năm 1977.

 

Với nhiều tài lẻ đó, cũng không lạ khi ông từng là Chủ tịch Hội Sinh viên Việt, hiện là thành viên Ban cố vấn Hội Văn hóa và Khoa học VN tại Houston, tham gia Ban cố vấn cho nhiều hội từ thiện Mỹ-Việt khác…

 

Về kinh nghiệm nuôi dạy con cái với một gia đình di dân ở Mỹ, người chồng từng ly dị và tái hôn, người cha của 7 người con (hai gia đình) vui vẻ kể:

 

“Việc giữ truyền thống Việt trong gia đình Việt ở Mỹ thường bị ‘xung đột’ do hai nền văn hóa quá khác nhau. Trong sinh hoạt gia đình, chúng tôi phải rất cố gắng nói chuyện bằng tiếng Việt với các con và thường xuyên nhắc nhủ để các con nhớ mình là người Việt. Chẳng hạn về sự kính trọng người lớn qua cách ăn nói, đối xử…”.

 

Một ví dụ khá độc đáo: trong nhà GS Cường, các con đều phải xưng hô “Anh/Chị” với những anh chị của mình, không được nói trống không xưng tên theo kiểu Mỹ. Ngay khi dùng tiếng Mỹ, vẫn phải thưa gửi qua tiếng Việt xen lẫn vào câu Anh văn. Ví như: “I agree, thưa dada.” (Con đồng ý, thưa ba.)

 

Trước ngày từ Washington D.C. đến California tham dự lễ nhận Giải thưởng Di sản châu Á năm 2014, GS Cường chia sẻ với chúng tôi:

 

“Xa quê hương thế là đã 43 năm, lúc nào tôi cũng nghĩ mình đang là người Việt Nam. Tôi tự thấy có bổn phận khi đã thành công thì phải trả ơn cho quê hương; đó là tìm kiếm đủ mọi cách giúp đỡ những người không được may mắn như mình, đặc biệt là giới trẻ ở VN có cơ hội qua Hoa Kỳ du học theo các chương trình hợp tác giáo dục Mỹ - Việt.”

 

GS Charles Nguyễn Cường

* Làm việc cho NASA từ 1985-1995 và sáng chế một tay người máy đầu tiên để xây dựng trạm không gian vũ trụ;

* Xuất bản hơn 100 bài nghiên cứu khoa học, bài báo, hiệu đính sách trong các lãnh vực Điều khiển, Người máy, Y học, Toán logic và Cấu trúc không gian;

* Là Sáng lập viên và hiện là Chủ nhiệm tạp chí “Intelligent Automation and Soft Computing”;

* Năm 2004, được Tổng thống Mỹ George Bush bổ nhiệm vào Ban giám đốc Vietnam Education Foundation - VEF (Quỹ Giáo dục Việt Nam).

* Trang cá nhân http://engineering.cua.edu/dean

 

"Hơn bốn thập niên xa quê hương tôi luôn nghĩ mình là người Việt Nam. Và thấy có bổn phận, sau khi thành công, phải trả ơn cho quê hương bằng cách tìm kiếm đủ mọi biện pháp giúp đỡ những người không được may mắn như mình, đặc biệt là giới trẻ ở Việt Nam". GS.TS Charles Cường Nguyễn (Nguyễn Cường) bộc bạch.
 
GS Nguyễn Cường (ngồi, phải) trong một lễ ký chương trình hợp tác đại học Mỹ-Việt. Ảnh do nhân vật cung cấp.
GS Nguyễn Cường (ngồi, phải) trong một lễ ký chương trình hợp tác đại học Mỹ-Việt. Ảnh do nhân vật cung cấp.

 

Ông cũng cho biết thêm, tôi đã và đang gắng hết sức lực và khả năng để làm các chương trình giáo dục hợp tác với các trường đại học ở Việt Nam, sao cho đưa tới các sinh viên ở VN thật nhiều cơ hội du học tại Hoa Kỳ.

 

Giải thưởng Di sản châu Á năm 2014 (“The 2014 Asian Heritage Award”) mà Giáo sư vừa nhận vào cuối năm 2014 có ý nghĩa thế nào? Năm 2009, chúng tôi cũng được phỏng vấn nhân dịp ông nhận Giải thưởng thành tựu trọn đời…

 

Giải thưởng đó đã chú ý đến “cơ hội”. Lời giải thích của Hội đồng xét giải có câu “vì người được Giải thưởng không những vượt qua các hậu quả chiến tranh Việt Nam mà còn dùng những cơ hội đó để làm tấm gương về thành tựu của mình, và giúp những người khác cũng được các cơ hội thành công như mình.” Lâu nay, Giải thưởng Di sản châu Á được xem như giải lớn nhất, trang trọng nhất dành cho người gốc châu Á ở Mỹ.

 

Còn Giải thưởng “2009 Lifetime Achievement Award” chú trọng cống hiến khoa học và kỹ thuật của người được giải thưởng trong cả cuộc đời làm việc.

 

Giáo sư có thể tóm tắt thành tựu của mình trong khoa học và giáo dục, nhất là về trao đổi giáo dục đại học với Việt Nam?

 

Sinh trưởng ở Đà Nẵng, năm 1971 học xong tú tài GS Nguyễn Cường sang Tây Đức. Năm 1978 sau khi nhận bằng cử nhân Điện tại đó ông qua Hoa Kỳ định cư. Từ năm 1982 đến nay, làm việc tại Đại học CUA (Catholic University of America). Từ năm 2001, là Khoa trưởng Trường Kỹ sư (Dean of School of Engineering) của trường CUA.

 

Tôi từng làm việc cho NASA và sáng chế một tay người máy đầu tiên để xây dựng trạm không gian vũ trụ; Đã xuất bản hơn 100 bài nghiên cứu khoa học, bài báo về Điều khiển, Người máy, Y học, Toán logic…; Là chủ nhiệm sáng lập tạp chí “Intelligent Automation and Soft Computing”; Năm 2004 được Tổng thống Mỹ G. Bush bổ nhiệm vào Ban giám đốc Quỹ Giáo dục VN; Là người Mỹ gốc Việt đầu tiên (và hiện là một trong hai người) giữ chức Khoa trưởng tại một trong những đại học lớn của Mỹ…

 

Trước năm 2001, Trường Kỹ sư CUA không có chương trình giáo dục quốc tế; hiện chúng tôi đã thiết lập nhiều chương trình giáo dục tại Đài Loan, Hồng Kông, Mã Lai, Thái Lan; và đặc biệt tại Việt Nam có 2 chương trình chính:

 

Chương trình 2+2: Sinh viên VN sau khi hoàn thành 2 năm đầu ở một trường đại học mà CUA cộng tác, nếu trúng tuyển sẽ đến CUA học tiếp 2 năm cuối và nhận bằng Kỹ sư của CUA. Chúng tôi đã có hợp đồng như thế với các trường Đại học Bách khoa TP HCM, Đại học Quốc tế, và Đại học Bách khoa Đà Nẵng. Đến nay trường CUA chưa cộng tác với các trường đại học kỹ thuật ở Hà Nội và các tỉnh phía bắc Việt Nam. Chúng tôi đã và đang thăm một số trường đại học kỹ thuật ở Hà Nội và xúc tiến các chương trình cộng tác trong tương lai. Hy vọng trong thời gian ngắn sẽ có thể đưa các sinh viên ở Hà Nội và miền Bắc qua Hoa Kỳ du học, tương tự như đã làm với các tỉnh miền Nam và miền Trung.

 

Còn chương trình thứ hai là Chương trình học bổng bán phần (50%) cho những sinh viên VN sau khi hoàn thành bằng cử nhân có cơ hội đến học ở CUA để lấy bằng cao học và tiến sĩ.

 

GS Nguyễn Cường khai mạc một ngày lễ của Đại học Công giáo Hoa Kỳ (Catholic University of America - CUA), Washington D.C.
 

Với 43 năm du học, sinh sống và làm việc ở xứ người, Giáo sư phải vượt qua những gì để có thành công như vậy?

 

Tôi cảm thấy khó khăn nhất là vấn đề ngôn ngữ và khả năng hội nhập xã hội nước ngoài. Nhất là trong việc thăng chức ở đại học và đảm nhiệm lãnh đạo. Nói chung, người bản xứ thường nghĩ các việc đó khó có thể đến với người ngoại quốc. Tôi đã phải làm việc gấp hai, thậm chí gấp ba, so với các đồng nghiệp để tạo tin tưởng và chứng minh mình có khả năng. 80 năm qua, kể từ khi thành lập tất cả các vị Khoa trưởng tiền nhiệm của tôi đều là người da trắng sinh trưởng tại Mỹ. Ngoài ra, thành công tôi đạt được cũng là nhờ làm việc cần cù và không gian dối.

 

Thế còn về thuận lợi, khó khăn khi Giáo sư làm việc, cộng tác ở Việt Nam? 

 

Hiển nhiên thuận lợi đầu tiên là về ngôn ngữ rồi! Ngoài ra, vì là người Việt, sinh trưởng ở Việt Nam nên tôi dễ cảm thông hơn…

 

Năm 2004 lần đầu tiên tôi trở lại quê nhà, và nhận ra khó khăn khi làm việc với những người ở Việt Nam là sự hiểu biết về cách làm việc ở Hoa Kỳ. Đa số đồng nghiệp, sinh viên và phụ huynh mà tôi cộng tác ở Việt Nam thường nghĩ muốn mọi việc trôi chảy ở Mỹ thì phải qua “đút lót”… Các vị ấy dường như không biết rằng, sự quyết định chọn lựa sinh viên đã nộp đơn vào đại học Mỹ hoàn toàn dựa trên chất lượng học tập và phẩm chất của sinh viên. Sự đút lót, hối lộ là hoàn toàn bị nghiêm cấm tại Mỹ. Mỗi lần bị hỏi về “chi phí”, tôi nói rằng chúng tôi không thể nhận được; nhưng nhiều người không tin.

 

Giáo sư đã kinh qua nhiều môi trường giáo dục (miền Nam VN trước 1975, Việt Nam hiện nay, Đức và Hoa Kỳ). Ông thấy có những điều đáng lưu ý gì?

 

Các đại học kỹ thuật ở Mỹ khác hẳn ở Đức; tức là đào tạo người hoàn thiện trong mọi lĩnh vực. Sinh viên kỹ thuật ở đây, trong 2 năm đầu phải học nhiều môn tổng quát. Ra trường thông thường họ làm trong chuyên ngành của mình khoảng 5-10 năm rồi lên các chức điều hành, lãnh đạo. Nhưng nhiều người bỏ hãng lớn để ra mở hãng riêng trong ngành kinh doanh hay đầu tư.

 

Theo tôi thấy, triết lý giáo dục đại học ở Việt Nam vẫn còn rất “từ chương”: Quá quan tâm đến lý thuyết chung mà chưa sát với thực tế và thí nghiệm. Giáo dục ở Việt Nam đa phần chú trọng học thuộc lòng các công thức và không chú ý tới sự biến đổi của các công thức đó cũng như hướng phát triển của lý thuyết, như cách giáo dục ở Mỹ. Bởi thế phần đông sinh viên Việt Nam, theo tôi được biết, thường có 2 nhược điểm: khó lên làm điều hành, lãnh đạo; và gặp khó khăn khi nghiên cứu.

 

Giáo sư có thể nhận xét về giáo dục đại học Việt Nam hiện nay?

 

Theo tôi, những nhược điểm trong đại học Việt Nam  có thể nằm ở 3 điểm: a. Các giảng viên ở VN thường dạy theo phương pháp cách đây 20 năm. Phần đông có thể là dạy bán thời gian nên không có thời gian soạn bài, nhất là để nghiên cứu thêm; b. Mức lương bổng cho giảng viên rất thấp, bởi vậy họ phải làm thêm việc phụ và không thể toàn tâm lo giảng dạy; c; Khác với giáo dục ở Mỹ bắt buộc các giáo sư, giảng viên phải nghiên cứu và xuất bản bài nghiên cứu trên các tạp chí, đại học ở Việt Nam không đòi hỏi như vậy dẫn đến trình độ chung của giảng viên không được phát triển.

 

Xin ông chia sẻ kinh nghiệm nuôi dạy con trong một gia đình di dân ở Mỹ?

 

Vâng, sự dạy dỗ con cái trong một gia đình di dân ở đây rất phức tạp! Con cháu di dân lâu đời thường sinh ra ở Mỹ, nên các em nghĩ mình là “người Hoa Kỳ chính gốc”. Bởi thế, với các cha mẹ Việt Nam muốn bảo toàn truyền thống Việt thì trong gia đình dễ bị “đối địch”.

 

Trong nhà mình chúng tôi cố gắng nói chuyện bằng tiếng Việt với con cái và luôn luôn nhắc nhủ để các con nhớ mình là người Việt, vì thế cần tỏ rõ sự kính trọng người lớn trong cách ăn nói, đối xử. Ví dụ: chúng tôi bắt các con phải xưng hô “Anh/Chị” với những anh chị lớn hơn mình, không được nói trống không. Hoặc, ngay cả khi dùng tiếng Mỹ, con chúng tôi vẫn phải thưa gửi qua tiếng Việt xen lẫn câu Anh văn. Chẳng hạn: “I agree, thưa dada.” (Con đồng ý, thưa ba.)

 

Xin cảm ơn GS.TS Nguyễn Cường.

 

Theo vietnamnet.vn và tienphong.vn

Đại học Đà Nẵng - http://www.udn.vn/

Từ khóa      
Gửi cho bạn
Email người gửi:*

Người nhận:

Email người nhận:*

Tiêu đề:*
//
Nội dung:


    
In Bài
//
//
TIN MỚI THÔNG TIN TUYỂN SINH THÔNG TIN CÁN BỘ
TIÊU ĐIỂM SINH VIÊN
HÌNH ẢNH