Nhằm mục đích tăng cường trao đổi học thuật cũng như kinh nghiệm thực tiễn, tạo diễn đàn cho các học giả, các chuyên gia, các doanh nghiệp Việt Nam thảo luận về kinh nghiệm hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt tập trung đánh giá sâu về những cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community - viết tắt: AEC), nhất là tìm kiếm, tham vấn các phương thức và giải pháp hoạt động, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam trong AEC, ngày 12/9, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng và Hội Doanh nhân Trẻ TP Đà Nẵng đã phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học và Quản trị lần thứ IV (COMB 2015) với chủ đề “AEC, cơ hội, thách thức và các giải pháp cho các doanh nghiệp”.

 

COMB 2015 là sự kiện tiếp nối sự thành công và kế thừa các hiệu ứng tích cực từ các hội thảo COMB 2012; COMB 2013; COMB 2014.

 

Đoàn chủ toạ phiên 1 của Hội thảo, từ trái sang: Tiến sỹ Nguyễn Hiệp (Nguyên Trưởng phòng Phòng Khoa học, Sau đại học và Hợp tác quốc tế; Giảng viên chính Khoa Thương mại, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng; nay là Trưởng ban, Ban Kế hoạch – Tài chính, Đại học Đà Nẵng; Giảng viên chính Khoa Thương mại, Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng ; GS.TS Lê Thế Giới, Nguyên Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng ; Phó Giám đốc Đại học Đà Nẵng ; từ 2011 đến nay là Giảng viên cao cấp, khoa Quản trị Kinh doanh, Trường đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng ; ông Lê Văn Hiểu - Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ TP Đà Nẵng.

-Ảnh: T.N

 

Thay mặt BTC Hội thảo, GS.TS Nguyễn Trường Sơn (Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng) cho biết: Hội thảo đã thu hút sự tham gia của gần 100 học giả, các nhà nghiên cứu, các doanh nhân đến từ nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, các doanh nghiệp trong nước và quốc tế. BTC đã nhận được 64 bài viết tham gia, trong số đó có 56 bài được Ban biên tập đánh giá và lựa chọn đăng trong kỷ yếu khoa học của hội thảo.

 

Trong khuôn khổ hội thảo COMB 2015, BTC đã tập trung vào các vấn đề liên quan đến hội nhập AEC và các giải pháp từ chiến lược, marketing, quản trị nguồn nhân lực ... nhằm đưa ra những gợi ý, giúp cho các doanh nghiệp chủ động hội nhập thành công. Trọng tâm của Hội thảo COMB 2015 tập trung vào việc phân tích và đánh giá một cách cụ thể và toàn diện hơn các tác động của việc gia nhập cộng đồng kinh tế AEC, thảo luận về các phương pháp và cách thức nhằm giúp các doanh nghiệp tận dụng tốt hơn các cơ hội và vượt qua các thách thức do hội nhập mang lại. Đây cũng là dịp để các nhà doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách cùng nhau tập trung thảo luận và đi sâu vào các vấn đề :

- Những thay đổi của môi trường kinh doanh dưới tác động của AEC- cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp;
- Những thay đổi về Thể chế/Thể chế kinh tế của Việt Nam cần thiết cho sự phát triển của doanh nghiệp.
- Giải pháp giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trong AEC;

 

Khi AEC được thành lập sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp khu vực ASEAN nói chung và các doanh nghiệp VN nói riêng. Các doanh nghiệp sẽ được bình đẳng như nhau, có cơ hội mở rộng trao đổi thương mại ở một thị trường rộng lớn và nhiều tiềm năng, thu hút đầu tư dựa trên lợi thế không gian của một thị trường mở.

 

Phó GS.TS. Đào Hữu Hòa Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng phát biểu khai mạc. - Ảnh: T.N.

 

Các rào cản thuế quan, phi thuế quan được tháo gỡ, hầu hết các mặt hàng nhập khẩu trong nội khối ASEAN sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan, môi trường đầu tư thuận lợi sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu, cắt giảm chi phí nhập khẩu, hạ giá thành sản phẩm.

 

Ngoài ra, các doanh nghiệp còn có cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn hơn với các đối tác như Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia, New Zealand thông qua các hiệp định thương mại tự do riêng giữa ASEAN với các đối tác kinh tế lớn cũng như nỗ lực xây dựng Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), từ đó doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng khu vực.

 

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi có được, khi AEC có hiệu lực các doanh nghiệp cũng sẽ phải đối mặt với thách thức không nhỏ. GS.TS Nguyễn Trường Sơn phân tích:

- Đối với các doanh nghiệp sản xuất trong nước, sức ép từ hàng hóa nhập khẩu từ các nước ASEAN sẽ tăng lên, nếu doanh nghiệp Việt Nam không cạnh tranh nổi cả về giá cả và chất lượng sẽ dẫn đến phải thu hẹp sản xuất, thậm chí phải rút khỏi thị trường. Các hãng phân phối ASEAN đã chuẩn bị để chiếm lĩnh thị trường trong nước và thực sự đang đe dọa các doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam.

- Đối với hoạt động xuất khẩu: Nguy cơ cao bị đẩy khỏi các thị trường xuất khẩu truyền thống khi không có sự cải tiến đáng kể về chất lượng và giá cả. Mặt khác cần hết sức lưu ý sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là sản phẩm thô, nhóm hàng công nghiệp có sản lượng lớn nhưng chủ yếu là sản phẩm lắp ráp. Trong khi đó Quy tắc xuất xứ yêu cầu ít nhất 40% hàm lượng sản phẩm làm ra phải xuất xứ từ khu vực ASEAN thì mới được hưởng thuế suất 0%, nếu nhập quá nhiều nguyên liệu từ ngoài khu vực thì thuế suất 0% cũng trở nên vô nghĩa. Khi gia nhập AEC, nhiều doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó đáp ứng được những quy định nguồn gốc nguyên liệu. Bởi vì hiện nay chỉ khoảng 20% hàng hóa của VN đạt tiêu chuẩn về nguyên tắc xuất xứ trong khi các nước khác tỷ lệ này nằm ở mức 90% trở lên.

- Bên cạnh đó các nguy cơ về việc dịch chuyển lao động có kỹ năng của Việt Nam sang các nước láng giềng có mức lương cao hơn sẽ đẩy các doanh nghiệp Việt Nam vào tình thế khó khăn hơn... Như vậy, khi gia nhập AEC nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh lớn hơn trong khi quy mô nền kinh tế, doanh nghiệp còn nhỏ bé và năng lực cạnh tranh còn thấp. Những khó khăn và thách thức đặt ra là không hề nhỏ. Trong điều kiện các doanh nghiệp của Việt
Nam chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ, năng lực quản trị và công nghệ lạc hậu, chất lượng sản phẩm thấp, khả năng cạnh tranh kém, nếu không có sự nghiên cứu và chuẩn bị kỹ càng, chắc chắn chúng ta sẽ rất khó để hội nhập thành công, nếu không muốn nói là thất bị ngay từ sân nhà.

 

Việt Nam còn nhiều điểm yếu, mức độ cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt, khốc liệt !

 

Đó là nhận định của GS.TS. Lê Thế Giới, ThS. Trương Mỹ Diễm (Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng). Theo 2 tác giả, công bố từ WEF, chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) được xếp hạng theo 3 nhóm yếu tố với trọng số tương ứng: các yếu tố cơ bản (60%), các yếu tố nâng cao hiệu quả (35%), và các yếu tố sáng tạo
(5%).

 

Ba nhóm này bao gồm 12 trụ cột của năng lực cạnh tranh quốc gia, đối với Việt Nam: (1) Các yếu tố cơ bản của nền kinh tế (4,4/7 điểm), tăng từ vị trí 86 lên 79 trong trong bảng xếp hạng; (2) Các yếu tố nâng cao hiệu quả của nền kinh tế (4,0/7 điểm, tăng từ vị trí 56 năm 2013 lên vị trí 49 năm 2014); (3) Các yếu tố sáng tạo của nền kinh tế (3,4/7 điểm): tụt từ 85 xuống vị trí 98/144. Như vậy, GCI của Việt Nam 2014-2015 không có sự cải thiện so với các năm trước đó, (vị trí 65/142 năm 2011 và 59/139 năm 2010).

 

GCI Việt Nam vẫn còn nhiều điểm yếu, như Sự sẵn sàng về công nghệ; Sức sáng tạo; Các thể chế; Cơ sở hạ tầng và Giáo dục - Đào tạo bậc cao.

 

Tiến sỹ Đoàn Gia Dũng, thay mặt nhóm nghiên cứu báo cáo.

-Ảnh: T.N

 

Trong ASEAN, chỉ số GCI của Việt Nam đứng sau 5 quốc gia: Singapore (xếp hạng 2/144), Malaysia (20/144), Thái Lan (31/144), Indonesia (34/144) và Philippines (52/144). Với việc đẩy mạnh tự do hóa thương mại nội khối, hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các nước thành viên AEC sẽ dần bị xóa bỏ, là cơ hội cho hàng hóa của các nước ASEAN vào thị trường Việt Nam, đồng thờicác sản phẩm của Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các nước ASEAN và ASEAN+ như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc.

 

Mức độ cạnh tranh cao khi hàng hóa, dịch vụ của các nước ASEAN có chất lượng cao hơn so với hàng hóa và dịch vụ trong nước. Đặc biệt, hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam có tính tương đồng cao với các nước trong khu vực, dẫn đến tính loại trừ rất cao. Các doanh nghiệp ASEAN, ASEAN+ có bề dày, kinh nghiệm, kỹ năng quản lý kinh doanh tốt hơn, công nghệ cao hơn và đặc biệt họ có sự chuẩn bị tốt hơn cho hội nhập. Cần xem tính loại trừ là động lực để doanh
nghiệp Việt Nam đổi mới công nghệ, kỹ năng quản lý qua đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời đa dạng hóa thị trường.

 

Mặt khác, muốn thâm nhập vào thị trường ASEAN, doanh nghiệp Việt phải thâm nhập thông qua sự khác biệt có ưu thế của hàng hóa dịch vụ.

 

Tiến sỹ Đoàn Gia Dũng, ThS. Hoàng Thị Hoài Hương, ThS. Lương Tình (Đại học Đà Nẵng, Đại học Quy Nhơn, Viện khoa học xã hội vùng Trung Bộ) cũng phân tích thêm về các thách thức:

Thứ nhất, khi tham gia AEC sẽ ảnh hưởng đến quyền tự quyết của Việt Nam trong một số chính sách kinh tế, nhất là khi AEC có thể trở thành một liên minh thuế quan hay thị trường chung ASEAN trong tương lai.

Thứ hai, Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh từ các nền kinh tế khác trong diều kiện không cân sức, điều này có thể gây ra một số khó khăn thiệt hại cho nền kinh tế, khi mà quy mô nền kinh tế Việt Nam còn nhỏ bé, năng lực cạnh tranh chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, cộng với đó khoảng cách chênh lệch giữa Việt Nam với các nước ASEAN-6 vẫn còn khá lớn. Các doanh nghiệp của các nước ASEAN, đặc biệt là các nước ASEAN+ có bề dày kinh nghiệm, kỹ năng quản lý kinh doanh tốt hơn, công nghệ cao hơn và đăc biệt họ có sự chuẩn bị tốt hơn cho hội nhập. Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam còn quá ít kinh nghiệm quản lý, sự sẵn sàng cho hội nhập chưa cao, hơn nữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại đang phải cố gắng vượt qua khó khăn thách thức do bất ổn kinh tế trong những năm qua.
Thứ ba, sự chênh lệch phát triển thể hiện ở quy mô về vốn của cả nền kinh tế và các doanh nghiệp; trình độ khoa học công nghệ và tay nghề lao động cũng khiến cho nền kinh tế Việt Nam có sức cạnh tranh kém so với các nền kinh tế trong khu vực.

 

Nguồn nhân lực có kỹ năng và tay nghề còn ít và chưa đáp ứng được tiêu chuẩn của thị trường lao động ASEAN

 

Cácphân tích khoa học của GS.TS. Lê Thế Giới, ThS. Trương Mỹ Diễm tiếp tục làm rõ đánh giá: Chất lượng nguồn nhân lực thấp, năng suất lao động thấp là một trong những điểm yếu cản trở khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong khu vực ASEAN. Thường thì năng suất thấp đi liền với tiền lương thấp, thêm vào đó mức sống ở Việt Nam ngày càng đắt đỏ đã khiến tiền lương phải tăng nhanh hơn năng suất, làm xói mòn lợi thế lao động giá rẻ trong khu vực. Do đó, nguy cơ của nền kinh tế chỉ dựa vào lao động giá rẻ và năng suất thấp là rất cao. Bởi vì lao động chất lượng thấp đồng nghĩa với tính kém đa dạng của các loại kỹ năng, khả năng sáng tạo cũng như hiệu quả tổ chức.

 

Trong AEC sẽ hình thành một thị trường lao động có tính kết nối cao và mang tính cạnh tranh. Đó sẽ là một thị trường của những người có chứng chỉ nghề nghiệp hoặc bằng cấp được các nước ASEAN công nhận. Mức độ lành nghề hay tính chuyên nghiệp sẽ được đặt lên hàng đầu và đây được xem là một trong những rào cản kỹ thuật lớn nhất đối với lao động Việ Nam. Với những đặc điểm này, Việt Nam sẽ không phải là một điểm đến hấp dẫn cho những dự án đầu tư mang tính tiên phong về công nghệ hoặc quy mô.

 

Do trình độ phát triển không đồng đều, nên hiện nay, lao động có tay nghề và kỹ năng cao trong khối ASEAN chủ yếu di chuyển vào thị trường Singapore, Malaysia và Thái Lan. Số còn lại, trong đó có Việt Nam lao động di chuyển trong phạm vi ASEAN là lao động trình độ kỹ năng thấp hoặc không qua đào tạo. Kết quả khảo sát các doanh nghiệp sử dụng lao động tại 10 quốc gia ASEAN do ILO thực hiện cho thấy, các doanh nghiệp đang rất lo ngại về tình hình thiếu hụt lực lượng lao động có tay nghề và kỹ năng trước sự ra đời của AEC vào cuối năm 2015; gần 50% người lao động tốt nghiệp phổ thông không có được kỹ năng họ cần; cử nhân tốt nghiệp đại học có được những kỹ năng có ích nhưng cũng chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng...

 

Chất lượng và cơ cấu lao động vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển và hội nhập. Khoảng 45% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp hầu như chưa qua đào tạo. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (năm 2012), lao động phổ thông không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 83,28% tổng số lao động; lao động đã qua đào tạo nghề chỉ chiếm tỷ lệ 4,84%; lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp là 3,61% và lao động có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 8,26%. Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, lao động qua đào tạo nghề chiếm khoảng 34% tổng số lao động trong cả nước. Ngân hàng Thế giới đánh giá Việt Nam đang thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao. Theo thang điểm 10, chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm, xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (trong khi Hàn Quốc đạt 6,91 điểm; Ấn Độ đạt 5,76 điểm; Malaysia đạt 5,59 điểm,...). Do vậy, theo báo cáo của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), năng suất lao động của Việt Nam thấp nhất trong khu vực APEC, So với các nước trong khu vực ASEAN, năng suất trung bình của lao
động Việt Nam bằng 1/2 Philippines và 2/5 Thái Lan, 1/5 Malaysia và 1/15 Singapore.

 

 

Lâu nay, chúng ta luôn giới thiệu lao động nước ta với các đặc điểm: cần cù, chịu khó học hỏi, giá rẻ,… trong khi đó, tính kỷ luật, kỹ năng và kiến thức chuyên môn chưa bao giờ là điểm mạnh của lao động Việt Nam. 

 

Ngoài ra, khi tham gia AEC, lao động ngoài việc giỏi chuyên môn còn cần có ngoại ngữ để có cơ hội làm việc tại các quốc gia của AEC; kỹ năng này của lao động Việt Nam cũng còn rất hạn chế. Như vậy, nếu không nhanh chóng cải thiện những điểm yếu trên thì cơ hội dành cho lao động Việt Nam trong AEC càng thu hẹp.

** GS.TS. Lê Thế Giới, ThS. Trương Mỹ Diễm **

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Ảnh trên: Một trong nhiều dây chuyển sản xuất điện kế điện tử - sản phẩm của Trung tâm sản xuất thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung trực thuộc Tổng công ty Điện lực miền Trung trên cơ sở tách ra từ Công ty Công nghệ thông tin Điện lực miền Trung trước đây, với dàn kỹ thuật viên trẻ, lành nghề.

 

Sản phẩm điện kế điện tử này đã chính thức được Tổng Cục TCĐLCL Việt Nam phê duyệt mẫu và cấp phép sản xuất.

 

Nhiều năm qua, Trung tâm Sản xuất thiết bị đo điện tử Điện lực miền Trung (CPC EMEC) trực thuộc Tổng Công ty Điện lực miền Trung đã khẳng định được vai trò là một trong những đơn vị tiên phong trong lĩnh vực tự nghiên cứu sản xuất các sản phẩm công tơ điện tử và các giải pháp phục vụ công tác đo đếm điện năng từ xa.

 

Hội nhập AEC, doanh nghiệp Việt Nam cần kế thừa, học hỏi tính tiên phong, tự nghiên cứu sản xuất để khẳng định thế manh riêng. Muốn vậy, nguồn nhân lực phải là khâu cần nhiều đột phá từ đào tạo đến bồi dưỡng thường xuyên và sử dụng, đãi ngộ.  


Do đó, cần chú trọng phát triển nguôn nhân lực có trình độ. Bởi càng hội nhập quốc tế sâu rộng thì nhân công giá rẻ không còn là lợi thế lớn nữa mà chính chất lượng điều hành là nhu cầu hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài có chất lượng cao, công nghệ tốt, mang lại nhiều giá trị gia tăng... Chi phí nhân công không còn là yếu tố khiến các công ty nước ngoài lựa chọn đầu tư tại Việt Nam. Các doanh nghiệp muốn Việt Nam phát triển nguồn nhân lực với một hệ thống giáo dục chất lượng cao, nhất là giáo dục đại học và đào tạo nghề.

 

Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng chất lượng nguồn nhân lực thấp là do công tác đào tạo hiện nay chưa phù hợp, chưa đáp ứng yêu cầu sử dụng nhân lực và nhu cầu của người học, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa cơ cấu, số lượng và chất lượng, giữa dạy chữ với dạy người, dạy nghề,…

 

Mặt khác, hệ thống thông tin của thị trường lao động Việt Nam còn nhiều hạn chế; hệ thống chỉ tiêu về thị trường lao động tuy đã ban hành nhưng chưa chưa đầy đủ, thiếu thống nhất và khó so sánh quốc tế, thiếu mô hình dự báo thị trường lao động tin cậy và nhất quán. Do vậy, chưa đánh giá được hiện

 

Khuyến nghị gì cho thời điểm hội nhập AEC đã cận kề ?

 

Tham luận của Tiến sỹ Đoàn Gia Dũng, ThS. Hoàng Thị Hoài Hương, ThS. Lương Tình (Đại học Đà Nẵng, Đại học Quy Nhơn, Viện khoa học xã hội vùng Trung Bộ) đã đưa ra nhiều khuyến nghị đối với Nhà nước.

 

Theo đó, cần xây dựng các kênh tham vấn doanh nghiệp thường xuyên và hiệu quả hơn không chỉ cho quá trình đàm phán các hiệp định mà còn cả quá trình thực thi các cam kết thương mại. Tận dụng được lợi thế về nguồn lao động và tài nguyên dồi dào để chuyển dịch lên chuỗi giá trị cao hơn thông quan việc chú trọng vào các ngành/ sản phẩm có giá trị gia tăng cao và tránh bẫy thu nhập trung bình.

 

Phải cải thiện thể chế quốc gia (quản trị hành chính và thị trường các yếu tố sản xuất), phát triển nguồn nhân lực (hệ thống giáo dục và đào tạo) và nâng cấp cơ sở hạ tầng (nâng cấp hệ thống giao thông, điện, nước, hệ thống xử lý nước thải..).

 

Đảm bảo hài hòa các cam kết, các tuyến hội nhập để ngăn chặn các tác động không mong muốn có thể làm méo mó phân bố nguồn lực. Hơn nữa cần gắn quá trình tự do hóa với tăng cường hợp tác để không chỉ thúc đẩy cải cách kinh tế trong nước mà còn đẩy mạnh quan hệ hợp tác kinh tế sâu rộng với các thành viên ASEAN khác. Từ đó đẩy mạnh tự dó hóa đầu tư, thu hút nhiều hơn nữa các nguồn vốn bên ngoài có chất lượng vào Việt Nam.

 

Trong quá trình tự do hóa đầu tư cần chú ý giảm thiểu chi phí điều chỉnh, giam thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, giảm thiểu bất ổn kinh tế vĩ mô và rủi ro xã hội. Không thu hút ồ ạt tất cả các nguồn vốn đầu tư mà phải thu hút một cách có chọn lọc, chất lượng và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội. Nâng cao nhận thức của các sở ban ngành và nhân dân về tầm quan trọng của hội nhập AEC để tận dụng tốt nhất những lợi thế do AEC mang lại.

 

Các tác giả khuyến khị cùng cộng đồng doanh nghiệp: Doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu các nội dung và cam kết của các hiệp định có hiệu lực trong AEC để tận dụng các cơ hội và thách thức từ việc thực thi các hiệp định này. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng cần quan tâm tới lộ trình thực hiện các mục tiêu tương lai của AEC để có sự chuẩn bị sẵn sàng từ đó đưa ra định hướng đúng, và chiến lược kinh doanh hợp lý. Các doanh nghiệp Việt Nam phải thường xuyên nâng cao chất lượng và sức mạnh cạnh tranh của hàng xuất khẩu nhất là các tiêu chí về quy tắc ứng xử để được hưởng các ưu đãi về thuế quan.

 

Để năng cao năng lực quản trị, các doanh nghiệp cần phải hiểu và sử dụng các công cụ phòng chống rủi ro, biến động thị trường như thị trường kì hạn, bảo hiểm, công cụ phái sinh… Bên cạnh đó, nhận thức và đảm bảo các tiêu chuẩn, hàng rào kĩ thuật nhất là các thị trường phát triển, mở rộng thị trường dựa trên các cam kết cà lợi thế so sánh, tham gia sản xuất kinh doanh theo phân khúc, mạng, chuỗi. Đặc biệt các doanh nghiệp phải chuyển từ các hình thức cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh phi giá.

 

Theo ictdanang.vn

Đại học Đà Nẵng - http://www.udn.vn/

Từ khóa      
Gửi cho bạn
Email người gửi:*

Người nhận:

Email người nhận:*

Tiêu đề:*
//
Nội dung:


    
In Bài
//
//
TIN MỚI THÔNG TIN TUYỂN SINH THÔNG TIN CÁN BỘ
TIÊU ĐIỂM SINH VIÊN
HÌNH ẢNH