GS.TSKH Bùi Văn Ga, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã nhấn mạnh như trên trong phát biểu của mình tại Hội nghị “Tổng kết hoạt động KH&CN của Đại học (ĐH) vùng Đà Nẵng (ĐN) giai đoạn 2010 – 2015” (diễn ra ngày 09/4/2016).

Nghiên cứu khoa học tại các trường ĐH nói chung, ĐH vùng Đà Nẵng nói riêng cần đi theo xu hướng chưa cần tạo sản phẩm ứng dụng mà nghiên cứu nhằm tạo tác động trở lại để nâng cao chất lượng giảng dạy, đổi mới phương pháp, đổi mới nội dung kiến thức được truyền thụ đến người học, bảo đảm rằng đó là lượng kiến thức luôn luôn mới, không lạc hậu với bối cảnh phát triển nhanh chóng của thời đại; song song, phải huấn luyện các kỹ năng của môi trường lao động hiện đại.

GS.TSKH Bùi văn Ga - Thứ trưởng Bộ GD&ĐT. -Ảnh: T.N

Theo đó, để tạo ra những sản phẩm của quy trình đào tạo có hàm lượng tri thức cao, vừa hàn lâm, vừa chuyên sâu nhưng cũng sẵn sàng thực hành, ứng dụng tri thức vào công việc, không gì hơn là đổi mới mạnh mẽ phương pháp và nội dung giảng dạy. ĐH vùng ĐN phải tiên phong trong xây dựng mô hình “Nhóm Nghiên cứu–Giảng dạy” để thực hiện phân công theo ưu thế của giảng viên (GV). Trong Nhóm sẽ có GS, Phó GS, có TS, có GV chính rồi GV, GV nào có ưu thế về giảng dạy, truyền thụ thì ưu tiên bố trí đứng lớp, GV nào có thế mạnh nghiên cứu, thì mạnh dạn giao công trình, đề tài. Từng bước đổi mới phân công GV theo kế hoạch giờ giảng như hiện nay, mà tạo môi trường, điều kiện để GV có thời gian triển khai các đề tài, công trình nghiên cứu.

Theo GS.TSKH Bùi Văn Ga, do sức phát triển của nền kinh tế có giới hạn, việc đầu tư cho GD&ĐT còn chưa đáp ứng đúng với nhu cầu, bên cạnh đó Việt Nam không thể sánh với các quốc gia tiên tiến về nghiên cứu thực nghiệm, ứng dụng. Chúng ta chưa thể có những thiết bị tối tân, phòng thí nghiệm hiện đại để nghiên cứu theo hướng cho ra sản phẩm mới, công nghệ mới. Tuy nhiên, về nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu lý thuyết hay nghiên cứu mô hình hóa thì người Việt không thua kém ai. Đã có nhiều công trình của nhà khoa học Việt Nam ở 3 lĩnh vực vừa nêu công bố trong nước hay nước ngoài gây được tiếng vang lớn.

Nghiên cứu khoa học tại các trường ĐH nói chung, ĐH vùng Đà Nẵng nói riêng cần đi theo xu hướng chưa cần tạo sản phẩm ứng dụng mà nghiên cứu nhằm tạo tác động trở lại để nâng cao chất lượng giảng dạy, đổi mới phương pháp, đổi mới nội dung kiến thức được truyền thụ đến người học, bảo đảm rằng đó là lượng kiến thức luôn luôn mới, không lạc hậu với bối cảnh phát triển nhanh chóng của thời đại; song song, phải huấn luyện các kỹ năng của môi trường lao động hiện đại.

Bản thân SV – người học – rồi đây cũng phải bắt buộc tham gia nghiên cứu khoa học. Hẳn nhiên tham gia theo khả năng của chính các em. Có như vậy, ngay từ đầu các em mới xác định rằng chỉ học như lâu nay thì không bao giờ đủ, kiến thức sẽ không sâu, không mở rộng. Đồng thời, bắt buộc người học phải thông thạo ít nhất một ngoại ngữ…. Các trường thành viên ĐH vùng Đà Nẵng vừa tổ chức dạy tốt-học tốt ngoại ngữ vừa phải tiếp tục phát triển và đa dạng các loại hình đào tạo trực tuyến để người học thuận tiện chọn lựa cách học tập và tổ chức thời gian tự học.

Với sự chuyển động, đổi mới từ cả Người thầy lẫn Người học như thế, SV tốt nghiệp, ra trường, mới nhanh chóng tìm việc làm, không thất nghiệp tràn lan như vừa qua.

Lãnh đạo Bộ GD&ĐT và Lãnh đạo ĐH Đà Nẵng khen thưởng cá nhân xuất sắc tiêu biểu trong tham gia nghiên cứu khoa học và hoạt động khoa học-công nghệ 2011-2015. -Ảnh: Mai Hương

Thứ trưởng Bùi Văn Ga cũng yêu cầu ĐH vùng Đà Nẵng phát triển thêm một Tạp chí điện tử (song song với Tạp chí bản in hiện nay) và xuất bản thông tin lên mạng internet song ngữ (Anh-Việt) để khâu công bố các bài báo khoa học, các công trình nghiên cứu lan tỏa rộng ra ngoài nước, Bên cạnh đó, mở mới một website nghiên cứu khoa học, phổ biến tất cả các công trình của GV và cán bộ quản lý để giới nghiên cứu rộng rãi biết và cùng nhau trao đổi, mạn đàm khoa học trực tuyến.

Để làm được những việc trên, ĐH vùng Đà Nẵng phải tập trung tìm kiếm thêm nguồn lực để đầu tư và tiên phong trong xây dựng “Nhóm Nghiên cứu – Giảng dạy”, trước mắt có thể chọn và hình thành ở vài bộ môn, vài lĩnh vực ở từng trường cụ thể, rồi lan tỏa dần. Trong tìm kiếm nguồn lực để phát triển mô hình cần chú ý các nguồn ngoài ngân sách như dự án hợp tác quốc tế, dự án Nghị định thư, dự án hợp tác với doanh nghiệp trong và ngoài nước… Dù là kênh ngân sách, hay kênh ngoài ngân sách, muốn tranh thủ được các nguồn vốn này, điều kiện tiên quyết là phải xây dựng đề tài, công trình nghiên cứu thực sự có chất lượng, có hiệu quả.

Thay mặt ĐH Đà Nẵng, GS.TS Trần Văn Nam – Giám đốc - khẳng định: Trong giai đoạn 2011-2015, ĐH Đà Nẵng đã đạt đuợc nhiều thành tựu quan trọng, trong đó có đóng góp rất to lớn của hoạt động nghiên cứu khoa học và hoạt động khoa học-công nghệ. Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cũng là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá chất lượng các cơ sở giáo dục ĐH. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động khoa học-công nghệ, ĐH Đà Nẵng luôn xác định mục tiêu là “tiếp tục phát triển ĐH Đà Nẵng theo định hướng nghiên cứu, hướng đến việc đáp ứng các tiêu chí xếp loại trường đại học và được các tổ chức kiểm định quốc gia, quốc tế công nhận. Và thành quả gần đây nhất ghi nhận cả quá trình phấn đấu, đó là đầu năm 2016, Trường ĐH Sư phạm, thành viên ĐH Đà Nẵng là cơ sở giáo dục ĐH đầu tiên trong nước được công nhận “Đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục quốc gia”.

11 thành quả lớn trong hoạt động khoa học-công nghệ của ĐH vùng Đà Nẵng (tóm lược)

1) Công tác điều hành: Đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, qui định cụ thể nhằm thúc đẩy hoạt động khoa học công nghệ tại ĐH vùng ĐN. Cụ thể, qui định giảng viên đại học phải tham gia nghiên cứu như một hoạt động bắt buộc thông qua quy định về giờ chuẩn NCKH; quy định tiêu chuẩn lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua dựa trên kết quả nghiên cứu; trích kinh phí từ nguồn thu học phí để phục vụ hoạt động nghiên cứu và tạo điều kiện để giảng viên trẻ tiếp cận nguồn tài chính dễ dàng hơn thông qua chế độ ưu tiên giảng viên trẻ thực hiện đề tài cấp cơ sở; ban hành các qui định về nhóm nghiên cứu giảng dạy, về quản lý các hoạt động khoa học công nghệ, về sở hữu trí tuệ,…

2) Công tác tổ chức: Đã từng bước hoàn thiện bộ máy tổ chức, mạng lưới các đơn vị hoạt động khoa học công nghệ. Mỗi đơn vị trong ĐH vùng ĐN đều có lãnh đạo phụ trách mảng khoa học. Hình thành mạng lưới các Viện, Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ; hình thành các nhóm nghiên cứu giảng dạy (TRT) và đã bước đầu phát huy vai trò trong hoạt động nghiên cứu.

3) Công tác phát triển đội ngũ: ĐHĐN đã xác định muốn phát triển hoạt động KHCN thì trước hết phải có các nhà khoa học giỏi, có trình độ chuyên môn, có đạo đức, tâm huyết và tận tụy với hoạt động nghiên cứu. Tính đến ngày 31/12/2014, ĐHĐN có 947 cán bộ, giảng viên tham gia trực tiếp các hoạt động khoa học, trong đó có 8 Giáo sư, 72 PGS, 242 Tiến sĩ, 550 Thạc sĩ và 76 Kỹ sư/Cử nhân.

4) Triển khai các đề tài nghiên cứu: Trong giai đoạn 2011 - 2015, ĐH vùng Đà Nẵng đã triển khai thực hiện 899 đề tài khoa học các cấp, trong đó có 4 đề tài cấp Nhà nước, 23 cấp Bộ và tương đương,  853 đề tài cấp cơ sở do ĐHĐN và các trường thành viên quản lý và 19 đề tài do các tỉnh/thành phố cấp kinh phí. Nhờ vào kết quả nghiên cứu thông qua các đề tài, 22 bằng phát minh sáng chế đã được đăng ký và cấp bằng chứng nhận.

5) Công bố các bài báo khoa học: Nhờ tham gia tích cực các hoạt động NCKH, các cán bộ giảng viên của ĐH vùng ĐN đã công bố được nhiều bài báo khoa học có giá trị trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo trong và ngoài nước. Cụ thể, trong 5 năm qua đã công bố trên 2.877 bài báo, trong đó số bài báo quốc tế là 602 bài chiếm tỷ lệ 20,9%.

6)    Tổ chức các hội thảo khoa học: ĐH vùng ĐN đã chủ trì và phối hợp tổ chức hàng trăm hội thảo khoa học cấp quốc tế và quốc gia. Bên cạnh đó, các cơ sở giáo dục thành viên và các khoa đã tổ chức nhiều hội thảo chuyên ngành để tạo điều kiện cho cán bộ giảng viên công bố kết quả nghiên cứu.

7) Một số hội thảo có qui mô lớn và mang lại kết quả tốt như: International Conference KSE-IEEE 2012 (Knowledge and Systems Engineering), International Conference on Integrated Circuits, Design, and Verification (ICDV 2012), International Symposium on Information and Communication Technology (SoICT 2013),... (Trường ĐH Bách khoa); Hội thảo quốc tế “Korea – Vietnam 20 years and forward”,  Hội thảo “Quản trị và kinh doanh – COMB 2012”, International Conference on Accounting (ICOA 2015),… (Trường ĐH Kinh tế); Hội thảo quốc tế về Ứng dụng CNTT trong dạy và học ngoại ngữ toàn cầu (GLoCALL 2013), Hội thảo quốc tế về giảng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ (TESOL 2015), Hội thảo quốc gia về Diễn ngôn, tri thức và văn hóa năm 2012 (Trường ĐH Ngoại ngữ); Hội nghị toàn quốc 2012 về Hệ thống thông tin địa lý GIS, Hội thảo quốc gia năm 2015 về “Bồi dưỡng năng lực cho giảng viên các trường sư phạm”  (Trường ĐH Sư phạm). Đặc biệt, các đơn vị như Phân hiệu ĐH vùng ĐN tại Kon Tum, Viện Nghiên cứu và Đào tạo Việt Anh, Trường CĐCN, Trường CĐCNTT cũng đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo khoa học thu hút được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia.

Việc tổ chức thành công các hội nghị, hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế đã góp phần quan trọng trong trao đổi học thuật, phát triển các quan hệ hợp tác trong nghiên cứu và góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, tổ chức cho cán bộ giảng viên của ĐH vùng ĐN.

8) Công tác xuất bản: từ một tạp chí với 4 số phát hành mỗi năm, đến nay ĐH vùng ĐN đã có 3 tạp chí (Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng, Tạp chí Khoa học Kinh tế và Tạp chí Khoa học và Giáo dục), 1 chuyên san tiếng Anh (ICT issues) với hơn 20 số phát hành mỗi năm. Các tạp chí của ĐH vùng ĐN đã từng bước khẳng định chất lượng, uy tín và thu hút rất nhiều các nhà khoa học trong và ngoài nước gửi bài để công bố.

9)    Phát triển hoạt động nghiên cứu của sinh viên: Song song với hoạt động NCKH của giảng viên, hoạt động NCKH của sinh viên được ĐHĐN chú trọng phát triển. ĐH vùng ĐN đã có nhiều hỗ trợ hiệu quả và thông qua các mô hình khác nhau nhằm khơi nguồn sáng tạo, tạo niềm say mê học tập và NCKH đến từng sinh viên. Vì vậy, NCKH trở thành hoạt động thường xuyên của sinh viên trong toàn ĐH vùng ĐN. Trong 5 năm qua, hoạt động NCKH của sinh viên đã đạt được những kết quả tốt cả về số lượng lẫn chất lượng.

10)    Tăng cường hợp tác với các địa phương và doanh nghiệp: ĐHĐN đã đẩy mạnh hợp tác với các sở, ban, ngành tại các tỉnh, thành miền Trung - Tây Nguyên. Đã phối hợp triển khai nhiều đề tài nghiên cứu gắn với thực tiễn địa phương, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực.

11)    Tăng cường hợp tác quốc tế: ĐHĐN đã triển khai nhiều dự án nghiên cứu chung với nhiều trường đại học trên thế giới như UW, ASU, CUA (Mỹ); ĐH Nice–Sophia Antipolis, ĐH Bách khoa Grenoble, ĐH Nantes (Cộng hòa Pháp); ĐH Kyoto, ĐH Tokyo, ĐH quốc gia Yokohama, ĐH Kita Kyushu; ĐH Turku, ĐH HAAGA-HELIA (Phần Lan),… Đặc biệt, ĐH vùng ĐN đã triển khai nhiều dự án hợp tác nghiên cứu với các tập đoàn lớn của nước ngoài như Microsoft, IBM, Nokia, Texas Instrument,…

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------

GS.TS Trần Văn Nam - Giám đốc và GS.TS Trương Bá Thanh - Phó Giám đốc ĐH Đà Nẵng khen tặng thành tích các cá nhân xuất sắc tiêu biểu. -Ảnh: Mai Hương

Nhân dịp này, Giám đốc ĐH Đà Nẵng trân trọng ghi nhận thành tích, tặng Giấy khen đến 53 cá nhân xuất sắc tiêu biểu trong tham gia nghiên cứu khoa học và hoạt động khoa học-công nghệ 2011-2015.

T. Ngọc thực hiện

Đại học Đà Nẵng – www.udn.vn

Từ khóa      
Gửi cho bạn
Email người gửi:*

Người nhận:

Email người nhận:*

Tiêu đề:*
//
Nội dung:


    
In Bài
//
//
TIN MỚI THÔNG TIN TUYỂN SINH THÔNG TIN CÁN BỘ
TIÊU ĐIỂM SINH VIÊN
HÌNH ẢNH