Ngày 29/7, tại Hà Nội, Bộ GD&ĐT phối hợp với Bộ KH&CN tổ chức Hội nghị “Phát triển khoa học công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học giai đoạn 2017-2025”. Bộ trưởng GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ và Bộ trưởng KH&CN Chu Ngọc Anh đồng chủ trì Hội nghị.

Tham dự hội nghị có Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng; đại diện Ngân hàng Thế giới ông Francisco Marmolejo và hơn 300 đại biểu là lãnh đạo, nhà khoa học, giảng viên của các cơ sở giáo dục đại học, Viện nghiên cứu, các Bộ, ngành, các doanh nghiệp quan tâm tới nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.

2/3 tổng số sản phẩm khoa học công nghệ thuộc ngành Giáo dục

Báo cáo kết quả khảo sát hoạt động khoa học công nghệ (KH&CN) tại 142 cơ sở giáo dục đại học giai đoạn 2011-2016 của một nhóm nghiên cứu độc lập được trình bày tại hội nghị cho thấy, khu vực các trường đại học đóng góp hơn 1/2 (50,08%) tổng số nhân lực KH&CN của cả nước, giai đoạn 2011-2015, tổng số sản phẩm KH&CN của khối các trường đại chiếm hơn 2/3 trong cả nước.


Toàn cảnh hội nghị

Hoạt động KH&CN tại các trường đại học nằm ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ phát hiện tài nguyên, phát triển hạ tầng, KH&CN trong y tế, trong môi trường, trong phát triển mô hình kinh tế, quốc phòng, an ninh, lý luận con đường phát triển, thay đổi và phát triển luật pháp, phát triển văn hóa…

Các tiến bộ KH&CN đã đóng góp khoảng 30%-40% vào tăng trưởng nông nghiệp. Trong công nghiệp, hoạt động khoa học và công nghệ đã hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá thành sản phẩm tạo ra sản phẩm mới thay thế nhập khẩu trong các ngành kinh tế mũi nhọn.

Đặc biệt, vấn đề thương mại hóa sản phẩm và chuyển giao KH&CN đã được các trường đại học quan tâm. Cụ thể, trong giai đoạn 2011-2015, khối trường đại học kỹ thuật công nghệ (9/16 trường) đã có 1.729 hợp đồng chuyển giao công nghệ được ký kết và thực hiện, tổng lợi nhuận từ nguồn thu các hợp đồng này là 553,09 triệu đồng.

Khối các trường Nông-Lâm-Ngư-Y có tổng cộng 570 sản phẩm ứng dụng được tạo ra, trong đó có 62 sản phẩm thuộc lĩnh vực y dược, 508 sản phẩm ứng dụng thuộc lĩnh vực nông lâm ngư. Các trường đại học khối khoa học xã hội và nhân văn có đóng góp đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Nhiều kết luận của khoa học xã hội và nhân văn đã được dùng làm cơ sở để soạn thảo các nghị quyết, hoạch định các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.


Lễ ký kết Chương trình phối hợp công tác giữa Bộ KH&CN và GD&ĐT giai đoạn 2017-2025

Tuy nhiên, nếu so với tiềm lực về con người, cơ sở vật chất sẵn có thì những con số đã đạt được về khoa học công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học còn khiêm tốn và phần nào chưa kết nối với đời sống để giải quyết những vấn đề từ thực tiễn.

Đến nay, chưa có nhiều nhà khoa học của hệ thống trường đại học ở Việt Nam đạt giải thưởng cao ở quốc tế và chưa có nhóm nghiên cứu mạnh của hệ thống các trường đại học ở Việt Nam tham gia các chương trình nghiên cứu lớn của quốc tế.

Nguồn thu từ NCKH và chuyển giao khoa học và công nghệ còn rất thấp so với tổng nguồn thu của nhà trường. Các trường sống bằng số lượng đề tài chứ chưa sống bằng sản phẩm của đề tài; thiếu quy hoạch đầu tư trọng tâm, trọng điểm hệ thống cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu và đào tạo; hoạt động xã hội hóa nguồn lực đầu tư cho KH&CN còn rất hạn chế.

Nhiều lãnh đạo các trường đại học ở Việt Nam chưa thực sự quan tâm đầu tư cho hoạt động KH&CN và hoạt động dịch vụ KH&CN đi kèm. Các trường chưa nhận thức đúng đổi mới sáng tạo trong KH&CN là động lực cho phát triển của nhà trường và là nguồn thu của nhà trường khi đi vào tự chủ.

Ngân sách KH&CN đầu tư cho hoạt động KH&CN của ngành Giáo dục thấp, trong khi số lượng các nhà khoa học trong ngành ngày càng tăng, số lượng các sản phẩm KH&CN của các trường đại học đóng góp cho tiềm lực KH&CN quốc gia là lớn. Cụ thể, giai đoạn 2011-2015, ngân sách dành cho nghiên cứu khoa học cấp cho Bộ GD&ĐT là trên 1.200 tỷ, trong khi con số đó của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam là gần 1.400 tỷ và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là hơn 2.800 tỷ đồng.

Ngoài ra, sự hợp tác quốc tế của các trường về KH&CN còn mang tính hình thức, ít hiệu quả. Hầu hết các trường khoa học thiếu vắng các nhà khoa học quốc tế. Sự hợp tác giữa các trường đại học và các doanh nghiệp chưa thực sự phát triển.

Cần tiềm lực, nguồn lực và động lực

Lý giải về những nguyên nhân dẫn tới việc hoạt động khoa học công nghệ trong trường đại học còn hạn chế, hầu hết các trường đều đề cập tới vấn đề kinh phí. PGS.TS Hoàng Minh Sơn, Hiệu trưởng Trưởng Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, có 3 yếu tố tác động tới hoạt động nghiên cứu khoa học là tiềm lực, nguồn lực và động lực. Không thể có điều kiện nghiên cứu nếu không có kinh phí.

Ông Sơn đề nghị, cần có các hình thức tài trợ nghiên cứu khoa học theo gói gắn với năng lực của trường và cam kết đầu ra, trong đó tập trung hỗ trợ xây dựng các chương trình nghiên cứu theo định hướng ưu tiên, đặc biệt cần tăng cường tự chủ để tạo động lực thúc đẩy nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, các trường cũng cần đẩy mạnh hợp tác trong nước theo hướng liên ngành, đầu tư cơ sở vật chất chung phục vụ nghiên cứu.


PGS.TS Nguyễn Quang Linh, Giám đốc Đại học Huế chia sẻ khó khăn trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm khoa học công nghệ của trường

Cho rằng năm nào ngành KH&CN cũng tiến hành điều tra nguồn nhân lực công nghệ trong cả nước, trong đó nguồn nhân lực của ngành Giáo dục chiếm rất lớn song việc phân bổ nguồn tài chính dành lại không gắn với kết quả nghiên cứu, PGS.TS Nguyễn Quang Linh, Giám đốc Đại học Huế đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ nên có những điều chỉnh để có nguồn tài chính hợp lý cho các nhà khoa học trong ngành Giáo dục.

Chia sẻ về khó khăn trong quá trình tìm đầu ra cho sản phẩm khoa học công nghệ hiện nay, ông Linh cho biết, doanh nghiệp thường nhìn vào lợi ích trước mắt mà đầu tư vào khoa học công nghệ chưa chắc đã có hiệu quả ngay nên dù có những sản phẩm tốt các trường đại học cũng không bán được. Từ đó, ông Linh đề xuất, Bộ sẽ là đặt hàng nhà trường thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học.

Cùng quan điểm về mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường, doanh nghiệp còn hạn chế, Giám đốc Đại học Thái Nguyên GS.TS Đặng Kim Vui mong muốn Bộ GD&ĐT sẽ có những chính sách hỗ trợ tạo ra cầu nối để gắn kết giữa hai bên.

Ông Vui cũng đề xuất nên có sự thay đổi về quy định thời gian giảng dạy của đội ngũ GS, TS, với quy định như hiện nay đội ngũ này vẫn nặng về thời gian giảng dạy mà ít có thời gian dành cho việc nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, theo ông Vui, cần có các chương trình hợp tác để các nhà nghiên cứu trẻ được ra nước ngoài nghiên cứu khoa học, vừa học, vừa làm, vừa cải thiện trình độ ngoại ngữ.

Ủng hộ giải pháp được đưa ra tại hội nghị là hình thành nhóm nghiên cứu trong các trường đại học, GS.TS Trần Văn Nam, Giám đốc Đại học Đà Nẵng cho biết, trên cơ sở kết hợp giữa nghiên cứu và giảng dạy, Đại học Đà Nẵng đã hình thành 60 nhóm nghiên cứu giảng dạy, hoạt động của các nhóm đạt hiệu quả rất tốt. Theo ông Nam, các trường đại học nên thành lập theo mô hình nghiên cứu giảng dạy và đề nghị Bộ hỗ trợ thêm kinh phí cho các nhóm này.


GS.TS Trần Văn Nam, Giám đốc Đại học Đà Nẵng cho rằng, các trường đại học nên thành lập theo mô hình nghiên cứu giảng dạy

Là đại học ngoài công lập song Trường Đại học Duy Tân là một trong những trường có ưu thế trong nghiên cứu khoa học, số liệu công bố quốc tế những năm gần đây cho thấy, Trường Đại học Duy Tân nằm trong tốp thứ hai các trường có công bố quốc tế. Trao đổi về vấn đề này, ông Võ Thanh Hải, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Duy Tân cho biết, để tạo động lực cho giảng viên, nhà trường đã có những cơ chế về thu nhập để các giảng viên yên tâm nghiên cứu. Trường cũng sẵn sàng đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí cho giảng viên sang nghiên cứu với nhóm nhà khoa học ở nước ngoài.

Ông Hải đề xuất được tạo điều kiện để các trường ngoài công lập được sử dụng chung cơ sở vật chất với các trường công lập hay các tập đoàn lớn, bởi hiện nay, Trường Đại học Duy Tân đang phải sử dụng phòng "lab" của các đại học ở Đài Loan, Hàn Quốc, Mỹ. Thực tế ngân sách của trường không đủ để đầu tư 100%

Trao đổi tại hội nghị, GS Nguyễn Hoàng Hải, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội đưa ra 4 giải pháp nhằm đầy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường đại học bao gồm: Lập quỹ đầu tư khoa học công nghệ không phân biệt công tư; nên thay việc lập các chương trình đào tạo TS chuẩn quốc tế thành chương trình học bổng TS chất lượng cao cấp và để những người được cấp học bổng tự lựa chọn nơi đào tạo; nên có sự kết nối về tư duy khoa học bằng việc luân chuyển cán bộ giảng dạy giữa các trường đại học, viện, học viện, giữa các trường dân sự, quân sự; nên có sự thay đổi trong tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học, không nên chạy theo số lượng mà phải vì chất lượng.

Cũng tại hội nghị, đại diện một số tập đoàn, doanh nghiệp đã có những trao đổi về công tác phối hợp với các trường đại học trong việc đặt hàng các sản phẩm khoa học công nghệ và khẳng định, cho đến nay đây là mối quan hệ tự thân vì lợi ích của cả hai bên. 

Đưa văn hóa nghiên cứu vào trường đại học

Đánh giá cao sáng kiến tổ chức hội nghị phát triển KH&CN trong các cơ sở giáo dục đại học của Bộ GD&ĐT, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh cho rằng, đây là chỉ là điểm khởi đầu quan trọng để sau đó đi vào bàn những vấn đề cụ thể, khả thi.


Bộ trưởng Chu Ngọc Anh đánh giá cao sáng kiến tổ chức hội nghị phát triển KH&CN trong các cơ sở giáo dục đại học của Bộ GD&ĐT

“Sau hội nghị này, hai Bộ sẽ có những cuộc làm việc cụ thể theo từng vấn đề, nhóm vấn đề, từng giải pháp. Trước hết sẽ tận dụng hành lang pháp lý hiện có, sau đó là hiệp đồng trách nhiệm quản lý các cấp để giải quyết từng vấn đề cụ thể. Quan điểm của Bộ KH&CN là cần có sự thống nhất trong phân bổ đầu tư sao cho hiệu quả chứ không thể dàn trải cho toàn bộ các trường và hoàn toàn không phân biệt công tư” - Bộ trưởng Chu Ngọc Anh trao đổi.

Về vấn đề kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp, Bộ trưởng Chu Ngọc Anh nhấn mạnh, thời gian qua đã được triển khai khá tốt và mang yếu tố tự thân. Tới đây, trách nhiệm quản lý là khơi thông và biến những nơi đã tự phát thành tự giác. Bộ trưởng cũng lưu ý, cần xem xét chuỗi nghiên cứu hiện nay như thế nào để có chính sách đồng bộ.

Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ khẳng định, nghiên cứu khoa học và đào tạo là hai trụ cột của trường đại học, các trường đại học khác với các cơ sở không đào tạo ở chỗ không chỉ tạo ra sản phẩm khoa học công nghệ phục vụ cuộc sống mà trước hết là để nâng cao chất lượng đào tạo.

“Khác với giáo dục phổ thông, mấu chốt của các trường đại học là tạo ra tri thức mới, nếu không đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ sẽ chỉ thuần túy là truyền bá mà không sáng tạo” - Bộ trưởng nêu rõ.


Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ nhấn mạnh, cần đưa văn hóa nghiên cứu vào trường đại học

Đánh giá hoạt động khoa học công nghệ trong các trường đại học thời gian qua, Bộ trưởng cho rằng, đã có những kết quả tích cực nhưng vẫn chưa đến nơi đến chốn. Các trường vẫn tập trung nhiều cho công tác đào tạo, dường như khoa học công nghệ vẫn xếp sau, đặc biệt nhiều trường công tác này rất mờ.

“Đây là thực trạng, nếu như lãnh đạo các nhà trường không chuyển mạnh, chuyển kịp thì trước cạnh tranh, tự chủ nhiều trường sẽ có nguy cơ đóng cửa. Nghiên cứu tuy tốn kém, khó khăn nhưng tạo ra thương hiệu cho nhà trường, từ đó sẽ thu hút được sinh viên giỏi, giảng viên giỏi, giữ chân được những nhà khoa học có tài, tạo ra hiệu quả lâu dài và bền vững. Điểm yếu hiện nay không hẳn là môi trường chính sách mà thuộc về tư duy quản trị của trường đại học về nghiên cứu KHCN”.

Từ đó, Bộ trưởng đề nghị, hiệu trưởng, chủ tịch hội đồng các trường cần đẩy mạnh nâng cao nhận thức để thực hiện nghiêm túc trách nhiệm nghiên cứu khoa học, nắm bắt và khai thác có hiệu quả những quy định, hướng dẫn về khoa học công nghệ hiện có làm cơ sở cho việc triển khai.

“Một số vấn đề nêu ra trong hội nghị này cho thấy việc nắm bắt văn bản của các nhà trường còn chưa rõ, chưa hết, một số vấn đề đưa ra tháo gỡ trên thực tế đã  có quy định tháo gỡ rồi” - Bộ trưởng nêu rõ.

Bộ trưởng yêu cầu, thời gian tới, các vụ, cục, đơn vị chức năng của Bộ phải tiếp tục rà soát, có hướng dẫn khả thi, vận dụng thống nhất thực hiện, đề xuất nhiệm vụ, chương trình dự án riêng, chung theo chuỗi để có được ngân hàng nhiệm vụ khoa học công nghệ, trước hết cho năm 2018 để kịp dự toán ngân sách. Những nhiệm vụ thực sự khả thi trình Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét triển khai.

Đối với các trường đại học, Bộ trưởng lưu ý, cần dành thời gian, công sức xây dựng chiến lược KH&CN bài bản, có thể thuê nhóm nghiên cứ thực hiện cho công việc này.

“Không phải trường nào cũng cần có chiến lược đỉnh cao mà tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện của trường mà xây dựng chiến lược sao cho sát với thực tế. Nghiên cứu không cần đặt ra to tát mà trước hết để chuyển giao công nghệ đào tạo và tùy lộ trình. Mấu chốt là phải đưa được văn hóa nghiên cứu vào trường đại học”.

Theo Bộ trưởng, các nhiệm vụ nghiên cứu cần gắn với quy hoạch công tác đào tạo, tránh tình trạng nghiên cứu một đằng đào tạo chất lượng cao một nẻo, gây lãng phí nguồn lực. Từng bước đưa hoạt động nghiên cứu khoa học một cách có chiến lược và thiết thực, đưa ra được cơ chế tạo nguồn lực và động lực cho người thực hiện.

Với mục tiêu của mội hội nghị “hiến kế”, tháo gỡ các nút thắt cho hoạt động khoa học công nghệ trong các trường đại học, Bộ trưởng mong rằng, sau hội nghị tinh thần nghiên cứu khoa học sẽ ngấm đến từng nhà khoa học, giảng viên, sinh viên và mỗi nhà trường để tạo ra những chuyển biến thực sự trong công tác này.

Tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phùng Xuân Nhạ và Bộ trưởng Bộ KH&CN Chu Ngọc Anh đã ký kết Chương trình phối hợp công tác giữa Bộ KH&CN và GD&ĐT giai đoạn 2017-2025.

Ông Francisco Marmolejo, chuyên gia cao cấp về lĩnh vực giáo dục đại học tại Ngân hàng Thế giới, đã chia sẻ bài học kinh nghiệm phát triển KHCN của một số trường đại học trên thế giới.

Thứ nhất, cần thực hiện đổi mới cơ chế tài chính với sự quản lý mạnh mẽ và quá trình ứng dụng rõ ràng để đẩy mạnh đầu tư vào khu vực tư nhân trong nghiên cứu và phát triển. 

Thứ hai, cần gây dựng ngân sách để khởi xướng những thay đổi trong văn hóa hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp. 

Thứ ba, cần thành lập các văn phòng chuyển giao công nghệ để khuyến khích các nhà nghiên cứu thương nghiệp hóa nghiên cứu và phát triển công, đồng thời kích thích các nghiên cứu ứng dụng. 

Thứ tư là cấp ngân sách nghiên cứu dựa trên chất lượng, sự rõ ràng và đơn giản sẽ giúp thu hút các nhà khoa học đang làm việc ở nước ngoài.

Ông Francisco cũng gợi ý một số lĩnh vực nghiên cứu Việt Nam nên ưu tiên như: công nghệ sinh học và thực phẩm, y tế, sản xuất và thiết kế, công nghệ truyền thông và thông tin, phát triển bền vững, kinh doanh, Chính phủ và giáo dục.

 

Tin từ Bộ Giáo dục và Đào tạo

Đại học Đà Nẵng – www.udn.vn

Từ khóa      
Gửi cho bạn
Email người gửi:*

Người nhận:

Email người nhận:*

Tiêu đề:*
//
Nội dung:


    
In Bài
//
//
TIN TỨC THÔNG TIN TUYỂN SINH THÔNG TIN CÁN BỘ
TIN NỔI BẬT
HÌNH ẢNH