Cải cách hệ thống kế toán, kiểm toán như thế nào để đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập!

30/08/2012

Hội nhập kinh tế thế giới – xu thế đã và đang diễn ra – mang lại cho Việt Nam chúng ta nhiều cơ hội lẫn hàng loạt thách thức. Quá trình hội nhập ấy, những đòi hỏi khánh quan không chỉ là cải cách thể chế, mà bao hàm cả các công cụ để vận hành và kiểm soát nền kinh tế.

Trong hoạt động kế toán, kiểm toán, nhiều năm qua, Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể từ khung pháp lý cho đến các văn bản hướng dẫn thực hành nghề nghiệp. Ngoài yếu tố tiếp cận với những thông lệ quốc tế, các thay đổi, cải cách đó đã tạo ra sự minh bạch thông tin tài chính, làm lành mạnh hóa các quan hệ bên trong cũng như trong lộ trình hội nhập.

Tuy nhiên không có quá trình cải cách và phát triển nào không gặp phải những trở lực nội tại và tác nhân bên ngoài. Vậy đối với kế toán, kiểm toán, có hay không những trở lực đó?

Gỡ bỏ trở lực mang lại tính thích nghi cao hơn

Xuất phát từ yêu cầu rất thực tiễn của hoạt động kế toán, kiểm toán; nhất là đúc kết những đòi hỏi cải cách, đưa ra một mô hình phù hợp, tiến đến đóng góp vào việc xây dựng cơ sở lý luận của kế toán, kiểm toán Việt Nam, Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng vừa tổ chức hội thảo với chủ đề: “Kế toán, kiểm toán trong quá trình cải cách và hội nhập”.

Các nhà khoa học đầu ngành, các chuyên gia và giảng viên đã đánh giá cao việc tổ chức hội thảo bởi “tính cần thiết và cấp thiết” của vấn đề và đã có các phiên trao đổi học thuật thú vị tại hội trường E (Trường Đại học Kinh tế - ĐH Đà Nẵng) hôm 24/8 vừa qua xoay quanh chủ đề: Liệu hệ thống các chuẩn mực kế toán, kiểm toán đã ban hành có còn thích ứng với điều kiện kinh tế hiện nay và trong thời gian tới? Làm sao gỡ bỏ được những trở lực đó để kế toán, kiểm toán đáp ứng được yêu cầu trong quá trình phát triển?

Trên cơ sở trao đổi các quan điểm khác nhau, theo những cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học, các nhà quản lý và những người hoạch định, điều hành chính sách vừa tìm kiếm sự đồng thuận trên những vấn đề cơ bản mà chủ đề hội thảo đặt ra, bên cạnh đó cũng có những ý kiến phản biện, chưa gặp nhau ở một số phương diện về lý luận lẫn trong ứng dụng nghề nghiệp.

“Là trường Đại học trọng điểm ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên, Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng đã có hơn 35 năm đào tạo nguồn nhân lực kế toán – kiểm toán cho khu vực miền Trung nói riêng và cả nước nói chung. Do đó, chúng tôi nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển nghiệp vụ lẫn dịch vụ kế toán, kiểm toán đối với sự phát triển của nền kinh tế. Đây là vấn đề có tính bức bách về thực tiễn, đồng thời lại có dư địa rộng cho những tìm tòi, khái quát, hệ thống hóa có tính chất lý luận.

Hội thảo do Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng khởi xướng và tổ chức hôm nay với mong muốn tạo một diễn đàn học thuật cho các nhà khoa học kế toán ở khu vực, tạo sự liên kế giữa các trường đại học có chuyên ngành đạo tạo về kế toán – kiểm toán, tạo mối liên kết giữa nhà trường và thực tiễn xã hội. Bên cạnh đó, hội thảo này không chỉ để trao đổi về những vấn đề thời sự của kế toán – kiểm toán mà còn học hỏi những phương pháp mới, những quan điểm mới trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán”. GS.TS. Trương Bá Thanh – Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng chia sẻ.

Một hệ thống kế toán như thế nào thì được đánh giá là năng động; vừa là hệ quả của trình độ phát triển kinh tế vừa có tác động tích cực đến chính sự phát triển đó ?

Phát biểu đề dẫn hội thảo, GS.TS. Trương Bá Thanh – Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng nhấn mạnh:

Cùng với quá trình cải cách và hội nhập kinh tế thế giới, lĩnh vực kế toán và kiểm toán ở nước ta trong thời gian qua đã có nhiều cải cách đáng kể. Hơn 10 năm qua đã có những bước tiến lớn trong việc thay đổi, cải cách khung pháp lý cho việc phát triển kế toán, đó là việc ban hành Luật Kế toán vào năm 2003, là việc ban hành 26 chuẩn mực kế toán trong giai đoạn 2001 – 2005, ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp vào năm 2006.

Lĩnh vực kiểm toán cũng có nhiều thay đổi căn bản mà trước tiên là việc Quốc hội đã ban hành Luật Kiểm toán Nhà nước vào năm 2005, Luật Kiểm toán độc lập năm 2011; Bộ Tài chính cũng đã ban hành 36 chuẩn mực kiểm toán làm nền tảng hoạt động kiểm toán nước ta đi theo thông lệ quốc tế.

Có thể nói, những đổi mới trong lĩnh vực kế toán kiểm toán về cơ bản đã tiếp cận với những thông lệ quốc tế, là những nền tảng cơ bản để tạo lập môi trường thông tin minh bạch trong quá trình cải cách kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

Những đổi mới của hệ thống kế toán, kiểm toán Việt Nam đã đặt ra nhiều thách thức lớn, từ các trường đại học đến các công ty kiểm toán, các doanh nghiệp và nhiều tổ chức khác để làm sao những tư tưởng, những kiến thức tiên tiến của khoa học kế toán và kiểm toán đi vào thực tiễn.

GS.TS. Trương Bá Thanh – Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Tuy nhiên, quá trình đổi mới luôn đòi hỏi những tổng kết, những đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn để làm sao hệ thống kế toán – kiểm toán Việt Nam phát triển vừa theo thông lệ quốc tế, vừa đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế chuyển đổi.

Liệu hệ thống các chuẩn mực kế toán, kiểm toán đã ban hành có còn thích ứng với điều kiện kinh tế hiện nay và trong thời gian tới? Một hệ thống kế toán năng động sẽ vừa là hệ quả của trình độ phát triển kinh tế vừa có tác động tích cực đến chính sự phát triển đó, hệ thống kế toán không chỉ là sản phẩm thụ động của nền kinh tế. Lý thuyết cũng như thực tiễn đều cho thấy khía cạnh năng động của hệ thống kế toán trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế.

Mặt khác, các hoạt động tài chính kế toán là phương tiện, là công cụ thúc đẩy sản xuất – kinh doanh, nhưng bản thân chúng cũng là một hoạt động tạo ra giá trị gia tăng, đóng góp đáng kể vào GDP, của cả nước.

Việc tồn tại đồng thời chế độ kế toán doanh nghiệp và chuẩn mực kế toán có làm cản trở việc áp dụng chuẩn mực kế toán, làm mất đi tính linh hoạt của người làm kế toán hay không? Có cần thiết ban hành riêng chế độ kế toán cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa hay không, khi mà việc ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng phổ biến hiện nay ở nước ta? Vai trò của thuế đối với hoạt động kế toán trong bối cảnh đổi mới như thế nào? Kế toán quản trị hiện nay của chúng ta đang ở đâu và có những rào cản nào trong quá trình phát triển? Công tác đào tạo nhân lực kế toán, kế toán phải thay đổi như thế nào để đáp ứng sự thay đổi căn bản về hệ thống văn bản pháp lý về kế toán và kiểm toán?

Rất nhiều câu hỏi từ thực tiễn các doanh nghiệp, từ những chuyên gia kiểm toán, những nhà chuyên môn đến những người làm công tác đào tạo ở các trường đại học.

GS.TS. Trương Bá Thanh đã đề nghị hội thảo thảo luận sâu các chủ đề :

+ Chiến lược và chính sách kế toán, kiểm toán trong quá trình cải cách và hội nhập.

+ Thực tiễn triển khai vận dụng chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán, kiểm toán trong các doanh nghiệp.

+ Đào tạo và phát triển nhân lực trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán.

+ Chất lượng công bố thông tin trong báo cáo tài chính.

+ Vận dụng chính sách kế toán tại các công ty.

+ Nghiên cứu việc vận dụng chính sách kế toán trong các doanh nghiệp.

+ Đối chiếu chuẩn mực kế toán với vận dụng các chính sách kế toán được sử dụng trong các loại hình doanh nghiệp.

Quy định trong chế độ kế toán do nhà nước ban hành là kiến thức kế toán chuẩn: Nhận thức này cần được thay đổi!

PGS.TS. Đặng Văn Thanh - Chủ tịch Hội Kế toán – Kiểm toán Việt Nam cho rằng:

Trong 25 năm đổi mới nền kinh tế theo cơ chế thị trường, kế toán và kiểm toán đã đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, các sự kiện về nghề nghiệp kế toán – kiểm toán Việt Nam nổi bật, gồm:

Năm 1988, lần đầu tiên Nhà nước ban hành Pháp lệnh Kế toán và Thống kê. Đây là văn bản đầu tiên có giá trị pháp lý cao nhất ở Việt Nam. Tiếp theo, năm 2003 Quốc hội đã thông qua Luật Kế toán.

Về bản chất kế toán là công cụ quản lý kinh tế tài chính hữu ích của các nhà quản lý, của các chủ đầu tư, chủ doanh nghiệp. Trong kinh tế thị trường, kế toán có chức năng đảm bảo và tổ chức hệ thống thông tin kinh tế - tài chính tin cậy phục vụ các quyết định kinh tế - tài chính, thỏa mãn yêu cầu quản trị kinh doanh. Cùng với sự phát triển của đất nước, của nền kinh tế hoạt động kế toán, kiểm toán của Việt Nam ngày càng được đổi mới, tiếp cận và hòa nhập với các nguyên tắc, thông lệ, chuẩn mực phổ biến trên thế giới.

PGS.TS. Đặng Văn Thanh - Chủ tịch Hội Kế toán – Kiểm toán Việt Nam

Trước yêu cầu của nền kinh tế chuyển đổi và trong tiến trình tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, kế toán không thuần túy là công cụ quản lý, là việc ghi chép, xử lý thông tin mà đã phát triển và trở thành một ngành, một loại hình dịch vụ, thương mại dịch vụ.

Hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán Việt Nam được phát triển cùng với việc tiếp tục tạo lập hoàn chỉnh khuôn khổ pháp lý, tăng cường hoạt động các tổ chức nghề nghiệp. Kế toán và người làm kế toán kiểm toán không chỉ làm nhiệm vụ tổ chức hệ thống thông tin tài chính kế toán mà đã trở thành một, một lĩnh vực dịch vụ. Phát triển các hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán theo xu hướng phát triển của các nước trong khu vực và quốc tế, tạo dựng và mở rộng giao lưu nghề nghiệp.

Bởi trong nền kinh tế thị trường, nhà nước quản lý và điều hành kinh tế bằng luật pháp. Nhà nước không phân biệt đối xử. Các chủ thể kinh tế được tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh. Doanh nghiệp tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tự quyết định. Doanh nghiệp được sử dụng các dịch vụ tài chính, trong đó có dịch vụ tư vấn, quản trị, thuế, hải quan, kế toán, kiểm toán…

Ngoài ra, theo PGS.TS. Đặng Văn Thanh, tính chất công việc kế toán và đặc biệt là nội dung và cách thức đào tạo về kế toán đang chịu nhiều tác động và ảnh hưởng đáng kể.

Thời đại ngày nay là thời đại của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin đang phát triển như vũ bảo, sự phát triển của công nghệ thông tin là sự hỗ trợ quan trọng và đắc lực cho quản trị kinh doanh. Kế toán là ngành và lĩnh vực sớm tiếp cận công nghệ thông tin và sử dụng công nghệ thông tin vào nghiệp vụ thay thế phần lớn công việc mang tính nghiệp vụ của những người làm kế toán và kiểm toán.

Chính vì thế, tác giả đề xuất rằng, chương trình đào tạo cần đa dạng hơn, linh hoạt hơn cho các chuyên ngành kế toán và kiểm toán.

Nội dung đào tạo cần phong phú về kiến thức và vừa đảm bảo những kiến thức lý thuyết rất cơ bản, có tính nguyên lý, đạo lý và khoa học vừa có tính thực tiễn. Khoa học kế toán có tính độc lập và khá hoàn chỉnh cả về nội dung và phương pháp luận nhưng dựa trên nền tảng của khoa học quản ký và lý thuyết tài chính.

* Con số biết nói!

Nội dung đào tạo không chỉ bao hàm những kiến thức mang tính nguyên lý, nguyên tắc của kế toán, kiểm toán, không chỉ kỹ năng về phương pháp kế toán kiểm toán mà rất cần những kiến thức về lý thuyết kinh tế, quản lý kinh tế và tài chính…

Kiến thức về kế toán và kiểm toán không chỉ dừng lại ở phương pháp kế toán kiểm toán, phương pháp xử lý, tổng hợp và cung cấp thông tin kinh tế tài chính mà quan trọng hơn là kỹ năng tổ chức thu thập, đánh giá thông tin, kỹ năng sử dụng thông tin do kế toán xử lý và cung cấp, do kiểm toán kiểm tra đánh giá và xác nhận.

Con số của kế toán phải là con số biết nói, con số phản ánh thực trạng kinh doanh, thực trạng tài chính của tổ chức, doanh nghiệp. Cần phải cung cấp cho người học kỹ năng nhìn nhận, đánh giá và phân tích thông tin do kế toán và kiểm toán cung cấp.

Bản thân phương thức đào tạo cũng cần có thay đổi căn bản, hạn chế cách đào tạo truyền thống, nặng về lý thuyết, xa rời thực tế dẫn đến sinh viên ra trường chậm làm quen với công việc. Không ít trường hợp phải đào tạo thêm, đào tạo lại ngay trong quá trình làm việc. 

Chấm dứt cách giảng dạy thụ động, người học buộc phải coi các quy định trong chế độ kế toán do nhà nước là kiến thức kế toán chuẩn.

Cần phải tạo cho người học hiểu và phát triển lý luận mang tính bản chất của kế toán và kiểm toán.

Chế độ kế toán hiện nay hay các quy định kế toán, kiểm toán của nhà nước trong từng thời kỳ, trong từng cơ chế quản lý chỉ là sự hiện thân, sự minh chứng cho những nguyên lý mang tính bản chất của kế toán.

Hãy chọn phương pháp giảng dạy và phương pháp học tích cực đối với môn học kế toán và kiểm toán. Tăng cường các bài tập tình huống, các trao đổi hai chiều giữa người dạy và người học.

Thành lập phòng kế toán ảo ngay trong trường tạp cơ hội để người học sớm tiếp cận các hoạt động thực tế, các yếu tố, các công việc, các phương pháp, các giấy tờ, chứng từ, sổ kế toán và mẫu biểu thuộc các phần hành kế toán, kiểm toán. *

Chuẩn mực chưa phù hợp với môi trường kế toán. Quá chú trọng cách thức phản án trên tài khoản mà xem nhẹ kỹ năng phân tích, đánh giá.

PGS.TS. Nguyễn Công Phương – Trường ĐH Kinh tế - ĐH Đà Nẵng cũng cho rằng, trong thực tế, các chuẩn mực kế toán chưa thực sự đi vào đời sống kế toán của doanh nghiệp.

Về mặt học thuật và đào tạo, cũng dễ nhận thấy đào tạo và nghiên cứu kế toán hiện nay chủ yếu tập trung vào chế độ kế toán. Gần như toàn bộ các giáo trình kế toán tài chính ở bậc đào tạo đều nhấn mạnh cách thức phản án trên tài khoản (sao chép lại Chế độ kế toán), mà ít đề cập đến khuôn khổ khái niệm, các nguyên tắc kế toán và không trang bị kỹ năng phân tích, đánh giá cho người học.

Vậy làm thế nào để chuẩn mực giảm tính hình thức, có tính thực tiễn cao?

Muốn vậy, chuẩn mực phải phù hợp với môi trường kế toán. Môi trường kế toán ở đây chính là đặc thù quốc gia của hệ thống kế toán (đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước). Hay nói cách khách, làm thế nào để mô hình chuẩn mực và chế độ kế toán cũng tồn tại phát huy hiệu quả. Trả lời câu hỏi này không phải một sớm một chiều mà cần thực hiện một nghiên cứu nghiêm túc.

PGS.TS. Nguyễn Công Phương (Trường ĐH Kinh tế - ĐH Đà Nẵng)

Phó GS.TS Nguyễn Công Phương đã đưa ra 3 định hướng để cùng trao đổi, bàn luận:

1.Hợp nhất Chuẩn mực và Chế độ kế toán hiện tại thành một “hệ thống” duy nhất bao gồm cả khái niệm, nguyên tắc, tài khoản và ghi sổ;

2. Chuẩn mực kế toán vẫn tồn tại song song bên cạnh Chế độ kế toán nhưng phải được điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù kinh tế, xã hội của đất nước và phải được minh họa chi tiết hơn;

3.  Loại bỏ Chế độ kế toán hiện tại (không cần ban hành chi tiết hệ thống tài khoản, cách thức phản ánh trên tài khoản và chuẩn tắc trình bày báo cáo tài chính), chỉ sử dụng chuẩn mực kế toán và chuẩn mực phải được giải thích chi tiết hơn.

Và PGS.TS. Nguyễn Công Phương cũng đã có nghiên cứu ban đầu (thông qua một cuộc khảo sát) về 3 định hướng nói trên.

Trong số 191 người được hỏi (những người có sử dụng kế toán trong công việc), có 55% đồng ý hợp nhất chuẩn mực và chế độ kế toán, 41% đồng ý duy trì tình trạng hiện tại với một số điều chỉnh nội dung chuẩn mực kế toán (hướng thứ 2); và có 76 ý kiến (chiếm 18%) lựa chọn hướng thứ 3.

Kết quả này chưa phản ánh một xu hướng rõ rệt về lựa chọn mô hình kế toán trong tương lai của Việt Nam, do vậy, cần thực hiện một nghiên cứu đầy đủ hơn. Đó cũng là nguyện vọng của tác giả Nguyễn Công Phương với mong ước có đóng góp vào cơ sở lý luận của kế toán, kiểm toán Việt Nam cũng như trong thực tiễn hoạt động kế toán, kiểm toán.

Trần Ngọc thực hiện