Ngày 10/8/2018, Thành ủy Đà Nẵng phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương tổ chức Hội thảo “Xây dựng và phát triển Thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đúng vào dịp 15 năm đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX)  "Về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" là quyết sách quan trọng tạo nền tảng và chiến lược để thành phố Đà Nẵng phát huy lợi thế, phát triển và vươn lên giữ vai trò đô thị trung tâm và động lực tăng trưởng của khu vực miền Trung - Tây Nguyên.

Tại Hội thảo có sự hiện diện đông đủ của các nhà lãnh đạo, chuyên gia, các nhà khoa học, quản lý và doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực chất lượng được xác định là một trong những chiến lược và quyết sách trọng tâm, trong đó Đại học Đà Nẵng (ĐHĐN) giữ vai trò trọng trách đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao đóng góp tích cực cho sự phát triển của thành phố Đà Nẵng, khu vực miền Trung Tây Nguyên cũng như cả nước.

Trung tâm Thông tin và Truyền thông trân trọng giới thiệu bài tham luận quan trọng của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ, Giám đốc ĐHĐN đăng trên Kỷ yếu của Hội thảo.

1.  Giới thiệu

Việt Nam đã tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN và các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Các ngành kinh tế chịu sức ép cạnh tranh lớn mang tính toàn cầu. Chính sách bảo vệ sản xuất trong nước bằng thuế quan từng bước đã được dỡ bỏ. Do đó năng suất lao động và chất lượng sản phẩm sản xuất trong nước phải đạt mức tương đương với khu vực và thế giới thì mới có thể đứng vững trong bối cảnh đất nước đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

 

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Bộ Giáo dục  và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ về thăm ĐHĐN

 

Tự động hóa sản xuất với sự phát triển nhanh chóng ứng dụng công nghệ thông tin trong kỷ nguyên số hóa đã làm thay đổi căn bản sản xuất truyền thống. Robot ngày nay đã thay thế hầu hết các thao tác lặp lại trong sản xuất và bắt đầu thay thế những hoạt động trí tuệ của con người. Trong bối cảnh đó, nguồn nhân lực giá rẻ mất tính cạnh tranh và không còn hấp dẫn nhà đầu tư. Trong những năm đến, các đại học trên toàn thế giới sẽ đứng trước những cơ hội đồng thời với những thách thức hết sức to lớn về đào tạo nhân lực thích nghi với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Theo dự báo của các chuyên gia kinh tế thế giới thì đến giữa thập niên 2030 sẽ có khoảng 30% lao động hiện nay được thay thế bằng rô-bốt. Khoảng thời gian này có thể rút ngắn hơn khi tốc độ phát triển trí tuệ nhân tạo, Big Data, IoT ngày càng mạnh mẽ như hiện nay. Các trường ĐH vì thế phải nhanh chóng đổi mới chương trình, mục tiêu đào tạo, phương pháp giảng dạy để đào tạo ra thế hệ sinh viên mới có thể thích nghi với môi trường lao động đang biến đổi sâu sắc.

Tuy nhiên, việc phát triển ứng dụng công nghệ thông tin internet hiện nay và IoT (internet kết nối vạn vật) trong tương lai lại là một lợi thế của các nước đang phát triển. Nó mở ra cơ hội để mọi người có thể tiếp cận thông tin và cạnh tranh bình đẳng. Lợi thế thuộc về quốc gia có trí tuệ chứ không phải lợi thế từ máy móc, công cụ sản suất như nền công nghiệp trước đây.

Trong bối cảnh đó, Đảng ta đã xác định đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao là một trong những khâu đột phá để phát triển đất nước trong những năm tới. Cùng với chính sách khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước cũng đầu tư đổi mới công nghệ và quản lý để có thể cạnh tranh trên thị trường thời kỳ hội nhập, nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ cao với kỹ năng mềm tốt (kỹ năng ngoại ngữ, ứng dụng CNTT, làm việc nhóm…) sẽ gia tăng trong những năm đến.

Mặt khác, nguồn nhân lực có trình độ cao không những chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn cho sự dịch chuyển lao động trong khu vực ASEAN và các khu vực đối tác khác. Thị trường lao động khu vực, quốc tế sẽ hình thành và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới, trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của ngành giáo dục và đào tạo nói chung, ĐHĐN nói riêng trong nâng cao chất lượng đào tạo và NCKH, chuyển giao công nghệ và quan hệ với doanh nghiệp để đáp ứng được nhu cầu của xã hội.

Lĩnh vực giáo dục đào tạo đang nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 BCH TW khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã tạo ra luồng sinh khí mới cho việc đổi mới hoạt động giáo dục và đào tạo, trong đó có đào tạo đại học và cao đẳng. Vai trò của giáo dục ngày càng khẳng định là quốc sách hàng đầu. Điều này thể hiện qua các chủ chương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến ngành giáo dục và đào tạo ngày càng thực sự trở thành động lực cho sự phát triển.

Đà Nẵng là thành phố năng động, là đầu tàu kinh tế khu vực Miền Trung và Tây nguyên. Từ sau khi có Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị, Đà Nẵng đã có những bước phát triển vượt bậc trong tất cả các lĩnh vực. Cơ sở hạ tầng đã được phát triển đồng bộ, chính sách đầu tư thông thoáng, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao góp phần xây dựng thành phố văn minh, hiện đại. Để Đà Nẵng tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững trong những thập niên tới, việc tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao sẽ đóng vai trò quyết định. Đào tạo nhân lực chất lượng cao phải được thực hiện một cách đồng bộ ở tất cả các cấp bậc học từ mầm non, mẫu giáo đến đại học và sau đại học. Trong bài tham luận này tôi tập trung nêu những giải pháp mà Đại học Đà Nẵng đã và đang tiến hành nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự phát triển kinh tế-xã hội của Thành phố Đà Nẵng nói riêng và khu vực Miền Trung-Tây nguyên nói chung.

 

Bí thư Thứ Nhất Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Lê Quốc Phong (Thứ nhất bên trái qua) và Lãnh đạo ĐHĐN thăm Festival sáng tạo & khởi nghiệp Trẻ Toàn quốc tổ chức tại ĐHĐN

 

2. Những kinh nghiệm ĐHĐN đã tích lũy được về đào tạo chất lượng cao

ĐHĐN là đại học vùng trọng điểm quốc gia với 05 trường đại học thành viên (Trường ĐHBK, Trường ĐH Kinh tế, Trường ĐH Sư phạm, Trường ĐHNN, Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật), 01 trường Cao đẳng CNTT và các đơn vị trực thuộc. Với bề dày truyền thống hơn 40 năm hình thành và phát triển, các trường thành viên của ĐHĐN đã đào tạo, cung cấp số lượng lớn đội ngũ cán bộ, quản lý, chuyên gia, các nhà khoa học, nhà giáo trên hầu khắp các lĩnh vực kỹ thuật, kinh tế trọng yếu cho khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước. Các cựu học viên, sinh viên tốt nghiệp từ ĐHĐN phần lớn đã và đang giữ những cương vị chủ chốt trong các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp. Đây là điều kiện thuận lợi lớn xây dựng quan hệ giữa ĐHĐN với các địa phương, quan hệ giữa nhà trường-doanh nghiệp, gắn kết đào tạo với nhu cầu xã hội.

ĐHĐN hiện khoảng 2.500 cán bộ, giảng viên, trong đó đội ngũ giảng viên gần 1500 người; có 10 giáo sư, hơn 100 phó giáo sư và 450 tiến sĩ khoa học và tiến sĩ; quy mô đào tạo hơn 50.000 sinh viên đại học chính quy; có 130 ngành đào tạo đại học, 44 ngành đào tạo thạc sĩ và 22 ngành đào tạo tiến sĩ. Đặc biệt về đào tạo chất lượng cao, ĐHĐN hiện triển khai 40 chương trình chất lượng cao (ĐHBK có 18 chương trình, ĐHKT có 10 chương trình, ĐHSP có 06 chương trình và ĐHNN có 06 chương trình). Có thể nói ĐHĐN có đa dạng, đầy đủ các ngành nghề, trình độ và chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội của đất nước nói chung và Đà Nẵng nói riêng.

Đứng chân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng - một thành phố năng động, đang phát triển mạnh mẽ theo hướng bền vững - là một trong những điều kiện quan trọng để ĐHĐN thu hút nhân tài về làm cán bộ giảng dạy, nghiên cứu cũng như thu hút sinh viên. Mặt khác, sự chỉ đạo sâu sát của Thành ủy, sự phối hợp, hợp tác chặt chẽ giữa ĐHĐN và thành phố là cơ hội tốt để ĐHĐN phát triển mạnh mẽ hơn trong những năm sắp tới.

Để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thì trước hết trình độ của đội ngũ nhà giáo phải được cải thiện. Trong suốt hơn 20 năm qua, ĐHĐN đã đầu tư bằng các nguồn lực khác nhau, tận dụng các chương trình hợp tác quốc tế để ưu tiên đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy. Đến nay đội ngũ cán bộ khoa học có học vị tiến sỹ và có chức danh giáo sư, phó giáo sư chiếm tỷ lệ khá cao so với mặt bằng chung trong cả nước. Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN đã có số lượng tiến sĩ trên 45%, có những bộ môn 100% giảng viên có trình độ tiến sĩ. Đặc biệt đội ngũ tiến sĩ ngày càng trẻ hơn, có nhiều mối quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp nước ngoài đã tạo nên động lực mạnh mẽ cho công tác đổi mới đào tạo, NCKH của ĐHĐN.

Nhờ đội ngũ cán bộ đã được đào tạo bài bản ở các nước phát triển, chương trình giảng dạy luôn được cập nhật, đổi mới theo chuẩn quốc tế. Trên cơ sở đó, ĐHĐN đã thực hiện kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục và các chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các tiêu chuẩn quốc tế phù hợp, được công nhận rộng rãi như AUN (Asean University Network), CTI (Commission des Titres d'Ingénieur)...Các chương trình đào tạo tinh hoa, chất lượng cao, tiên tiến và liên kết quốc tế đạt chất lượng cao và được nhiều đại học có uy tín trên thế giới thừa nhận. Cho đến nay, tất cả các trường ĐH thành viên của ĐHĐN đã được kiểm định chất lượng. Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN ngoài việc đạt chuẩn kiểm định trong nước còn đạt chuẩn kiểm định của HCERES theo tiêu chuẩn Châu Âu, có 3 chương trình đã được kiểm định bởi CTI, 6 chương trình đào tạo đã được kiểm định bởi AUN.

Hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và mở rộng hợp tác quốc tế. Chất lượng các công trình NCKH đã được khẳng định qua số lượng các bằng phát minh sáng chế, số lượng các bài báo đăng trên các tạp chí nước ngoài có uy tín… ngày một tăng nhanh, trong đó, một số kết quả nghiên cứu cơ bản đã tiếp cận trình độ quốc tế. ĐHĐN đã chủ trì và tham gia thực hiện nhiều dự án quốc tế, xây dựng nhiều chương trình liên kết đào tạo với các trường ĐH có uy tín trên thế giới như các trường ĐH của Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Nhật... Điều này đã góp phần quảng bá hình ảnh, nâng cao vị thế của ĐHĐN trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, quy mô của các chương trình đào tạo tinh hoa, chất lượng cao, tiên tiến, chuẩn quốc tế trong tổng quy mô đào tạo đã gia tăng nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của ĐHĐN. Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng với chuyên ngành ngay sau khi tốt nghiệp ở một số ngành chưa cao. Các đơn vị nghiên cứu, phát triển/chuyển giao công nghệ và dịch vụ còn ít về số lượng và chưa đồng đều về chất lượng. Mức độ hội nhập quốc tế chưa sâu. Đặc biệt là tiến độ triển khai Dự án đầu tư xây dựng Khu Đô thị Đại họctại Hòa Quí-Điện Ngọc rất chậm so với yêu cầu đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của ĐHĐN.

3. Các giải pháp để tiếp tục phát triển đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

- Thứ nhất, sắp xếp và tái cơ cấu lại các trường ĐH thành viên và đơn vị trực thuộc. Dự kiến đến năm 2035, ngoài các cơ sở giáo dục đại học (CSGDĐH) thành viên hiện có, ĐHĐN sẽ thành lập thêm các trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông, trường Đại học Y Dược, trường Đại học Việt-Anh, trường Đại học Khoa học, trường Đại học Luật, trường Đại học Kontum thuộc ĐHĐN để đào tạo nhân lực với những ngành nghề phù hợp với thị trường lao động. Bên cạnh đó, ĐHĐN sẽ xây dựng khu Technopole, hình thành mạng lưới các Viện nghiên cứu, Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ đủ sức giải quyết các vấn đề của khu vực, quốc gia và đóng góp tích cực vào sự phát triển tri thức của nhân loại. Xây dựng Liên khu hợp tác đào tạo quốc tế (International Education Hub), trường trực tuyến (Cyber College).

- Thứ hai, tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển ĐHĐN theo định hướng nghiên cứu. Điều chỉnh hợp lý theo lộ trình về cơ cấu đào tạo phù hợp với bộ tiêu chí phân loại trường đại học. Thiết kế lại khung thời gian đào tạo các cấp bậc học trong giáo dục đại học phù hợp với khung thời gian chung áp dụng rộng rãi trên thế giới. Rút ngắn thời gian đào tạo theo hướng tăng cường dạy những qui luật cơ bản, hướng dẫn sinh viên tự học, tự sáng tạo, tăng cường thí nghiệm, thực hành, thực tập tại doanh nghiệp. Tiếp thu kinh nghiệm của các nước phát triển để xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với xu thế phát triển của khoa học, công nghệ. Định hướng cốt lõi xây dựng chương trình đào tạo trong những năm tới theo hướng tiếp cận nhu cầu thị trường lao động, đào tạo nhân lực nhắm mục tiêu rõ ràng, ngành rộng, giúp sinh viên thích nghi nhanh chóng với môi trường lao động đang thay đổi nhanh chóng. Phát triển hệ thống đào tạo trực tuyến (Cyber College) không biên giới, chuẩn bị cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở dữ liệu lớn (Big Data) để áp dụng IoT, trí tuệ nhân tạo trong giảng dạy.

- Thứ ba, phát triển đội ngũ nghiên cứu viên phù hợp với chiến lược, thế mạnh của các cơ sở giáo dục đại học thành viên và định hướng đại học nghiên cứu theo mục tiêu lâu dài của ĐHĐN. Xây dựng chuẩn ngoại ngữ, tin học quốc tế cho giảng viên. Ngoại ngữ được xem là tiêu chí bắt buộc khi tuyển dụng và ưu tiên gửi cán bộ đào tạo hoặc bồi dưỡng ở nước ngoài. Có chính sách phù hợp để thu hút những người đã có bằng tiến sĩ về công tác tại ĐHĐN. Tuyển dụng GS, PGS đối với những ứng viên đã được Hội đồng chức danh GSNN xét đạt chuẩn. Phấn đấu mỗi khoa có ít nhất 1 GS và mỗi bộ môn có ít nhất 1 PGS, tất cả giảng viên giảng dạy lý thuyết phải có trình độ tiến sĩ.

- Thứ tư, tập trung phát triển nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và quan hệ với doanh nghiệp. Tiếp tục phát triển các nhóm giảng dạy-nghiên cứu, mỗi nhóm phải tập trung nghiên cứu để tạo ra các sản phẩm đặc trưng và có thể ứng dụng vào thực tiễn. Đẩy mạnh việc thành lập các trung tâm chuyển giao công nghệ, tư vấn để kết nối giữa hoạt động nghiên cứu với thực tiễn. Tăng cường công bố các kết quả nghiên cứu, chú trọng công bố bài báo trên các tạp chí quốc tế và đặc biệt là công bố trên các tạp chí thuộc danh mục ISI. Khuyến khích các CSGDĐH thành viên thiết kế các chương trình đào tạo dựa trên các chương trình quốc tế đã được kiểm định, lựa chọn và sử dụng giáo trình nước ngoài làm giáo trình hoặc tài liệu tham khảo chính để giảng dạy.Tích cực tìm kiếm các dự án tài trợ nhằm tăng cường việc gửi sinh viên ĐHĐN ra nước ngoài và tiếp nhận sinh viên quốc tế đến học tập, thực tập nghề nghiệp và giao lưu văn hóa tại ĐHĐN. Xây dựng và có kế hoạch cụ thể để triển khai các chương trình bồi dưỡng hoặc đào tạo ngắn hạn giảng dạy bằng tiếng Anh tại ĐHĐN. Đẩy mạnh giao lưu sinh viên, hợp tác với các trường đại học trên thế giới .

- Thứ năm, phát triển mạnh mẽ hơn nữa mối quan hệ giữa ĐHĐN với Thành phố. Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên. Thường xuyên nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình, nhận diện những biến động về kinh tế - xã hội để kịp thời đề xuất những giải pháp, những chính sách nhằm tham mưu cho lãnh đạo trong việc xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tích cực tham gia với chính quyền địa phương để lập dự báo nhu cầu nguồn nhân lực nhằm điều chỉnh và định hướng kế hoạch đào tạo của ĐHĐN nhằm đảm bảo cung cấp đủ nguồn nhân lực một cách kịp thời với chất lượng tốt cho nhu cầu phát triển của khu vực; phối hợp với các đơn vị, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế-xã hội trên địa bàn để đề xuất, triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học ứng dụng vào sản xuất nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra; nghiên cứu đề xuất cơ chế chia sẻ, khai thác hiệu quả nguồn lực giữa ĐHĐN và địa phương nhằm mục đích phát triển bền vững cho cả ĐHĐN và khu vực; ĐHĐN cần tích cực tham gia vào diễn đàn phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh duyên hải miền Trung để đề xuất những hướng phát triển phù hợp cho từng tỉnh và tổng thể toàn khu vực.

- Thứ sáu, phát triển không gian sáng tạo, khởi nghiệp. Trong phần bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay, nhân lực trong 10-15 năm tới sẽ có những yêu cầu khác so với yêu cầu nhân lực truyền thống như hiện nay. Trí tuệ và sáng tạo sẽ giữ vai trò chủ lực, quyết định cơ hội việc làm của người lao động khác với các yêu cầu kỹ năng, khéo tay để thực hiện những công việc có tính lặp lại. Các hiệp định FTA thế hệ mới, cộng đồng kinh tế ASEAN cho phép sự dịch chuyển lao động tự do một số lĩnh vực ngành nghề. Vì thế bên cạnh đào tạo nhân lực phục vụ cho yêu cầu trong nước cần phát triển các chuyên ngành, xây dựng chương trình đào tạo năng lực phù hợp để sinh viên tốt nghiệp có thể tìm được việc làm trên thị trường lao động khu vực và quốc tế.

 

Sinh viên Chương trình tiên tiến Hệ thống nhúng, Trung tâm Xuất sắc, Trường Đại học Bách khoa-ĐHĐN (đã kiểm định chất lượng quốc tế và đạt được điểm cao thứ hai trong các chương trình được kiểm định theo tiêu chuẩn các trường đại học khu vực Đông Nam Á (AUN-QA)

 

- Thứ bảy, phát triển các nguồn lực phục vụ nghiên cứu và học tập. Chú trọng phát triển thư viện điện tử và các tài liệu điện tử, liên kết thư viện của các CSGDĐH thành viên cũng như liên kết với thư viện các trường đại học khác trong nước và trên thế giới nhằm khai thác hiệu quả tài liệu trên quy mô lớn. Phối hợp với các cơ sở GDĐH khác để mua quyền khai thác cơ sở dữ liệu KHCN dùng chung. Có chính sách khuyến khích và bắt buộc giảng viên biên soạn bài giảng và giáo trình điện tử; hỗ trợ tài chính để đẩy mạnh công tác xuất bản giáo trình, tài liệu tham khảo và chuyên khảo.

- Thứ tám, khẩn trương nghiên cứu điều chỉnh, hoàn thiện dự án phát triển Khu đô thị đại học phù hợp với tình hình và yêu cầu mới. Triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng trong Đô thị Đại học theo thiết kế đã được cấp thẩm quyền phê duyệt. Lập đề án xây dựng các phân khu, các cụm cơ sở hạ tầng trong Đô thị Đại học theo hướng ưu tiên cho những trường thành viên hiện đã hết qũi đất để phát triển, các trường ĐH thành viên mới được thành lập. Triển khai xấy dựn các hạng mục công trình trong các phân khu sau khi được các cấp có thẩm quyền phê duyệt.

4. Các lĩnh vực ngành nghề Thành phố Đà Nẵng cần ưu tiên đào tạo nhân lực chất lượng cao

   Trên cơ sở phân tích bối cảnh phát triển kinh tế trong nước và quốc tế cũng như yêu cầu nhân lực trong những năm sắp tới, dựa trên những điều kiện cụ thể của Thành phố Đà Nẵng, Đại học Đà Nẵng kiến nghị những lĩnh vực cụ thể nên tập trung đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Thành phố Đà Nẵng trong những năm sắp đến như sau:

   - Công nghệ thông tin

   - Tự động hóa, viễn thông

   - Năng lượng tái tạo

   - Chế biến nông, thủy sản

   - Tài chính ngân hàng

   - Thương mại điện tử

   - Du lịch, khách sạn

   - Văn hóa

   - Logistic…

Đây là những lĩnh vực có nhu cầu nhân lực chất lượng cao phù hợp với sự phát triển của kinh tế thế giới trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Những ngành nghề này không cần nhiều đất đai, không gian phục vụ sản xuất nhưng cần trí tuệ và phương tiện kết nối internet chất lượng cao và an toàn. Nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực nêu trên sẽ góp phần phát triển Thành phố Đà Nẵng thành trung tâm khoa học công nghệ, trung tâmdịch vụ kinh tế quốc tế, đảm bảo sự phát triển bền vững lâu dài.

5. Kết luận

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có ý nghĩa quyết định để nâng cao năng lực cạnh tranh của Thành phố Đà Nẵng trong những nắm sắp tới. Đà Nẵng nên tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao thuộc lĩnh vực có yêu cầu trí tuệ cao, kết nối sản xuất toàn cầu thông qua internet, IoT.

Đại học Đà Nẵng với kinh nghiệm sẵn có, với đội ngũ giảng viên, các nhà nghiên cứu mạnh sẽ hỗ trợ cho Đà Nẵng thực hiện chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao theo yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương trong những năm tới.

Để có thêm năng lực đào tạo nhân lực chất lượng cao có tính cạnh tranh trên thị trường lao động khu vực và thế giới, Đại học Đà Nẵng mong muốn Thành phố Đà Nẵng cùng với Chính phủ tạo điều kiện thực hiện thành công Khu đô thị Đại học tại Hòa Quý-Điện Ngọc.

 

Tin Trung tâm Thông tin và Truyền thông ĐHĐN

Từ khóa      
Gửi cho bạn
Email người gửi:*

Người nhận:

Email người nhận:*

Tiêu đề:*
//
Nội dung:


    
In Bài
//
//
TIN MỚI THÔNG TIN TUYỂN SINH THÔNG TIN CÁN BỘ
TIÊU ĐIỂM SINH VIÊN
HÌNH ẢNH