Nâng tầm quan hệ song phương Việt Nam – Hàn quốc, đóng góp cho sự ổn định và thịnh vượng chung

26/09/2012

Đó là điểm tựu trung của nhiều ý kiến được các nhà nghiên cứu, các chuyên gia và giảng viên 2 nước Việt – Hàn đề cập tại hội thảo khoa học “Quan hệ Việt Nam – Hàn quốc: 20 năm và triển vọng tương lai” diễn ra ngày 25/9 (tại Trường ĐH Kinh tế - ĐH Đà Nẵng) do Trường ĐH Kinh tế - ĐH Đà Nẵng, Viện nghiên cứu Chính sách Kinh tế quốc tế Hàn quốc (KIEP) cùng Viện Kinh tế & Chính trị thế giới (IWEP - thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam) phối hợp tổ chức.

Trong khuôn khổ hội thảo khoa học, đã có 30 báo cáo khoa học của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia cao cấp và giảng viên 2 nước gửi về cho BTC.

Các lĩnh vực đầu tư của  Hàn quốc vào Việt Nam.

Đóng góp vào sự ổn định của khu vực và toàn cầu

Giáo sư Heungchong Kim. -ảnh: T.Ngọc

Phát biểu khai mạc hội thảo, Giáo sư Heungchong Kim - Giám đốc KIEP, nhấn mạnh:

Việt Nam và Hàn quốc đã có mối quan hệ từ lâu đời và trong lịch sử quan hệ, 2 quốc gia chúng ta đã cùng trải qua những thăng trầm, biến động.

Mối quan hệ đó đã được kết nối trở lại khi cả 2 Chính phủ, 2 Dân tộc cùng hướng về tương lai và cả tất cả chúng ta đều có chung mục đích đóng góp vào sự ổn định của khu vực và toàn cầu.

Hội thảo hôm nay của chúng ta sẽ đưa ra những ý kiến sát sườn vào bộ khung chính sách thương mại, dịch vụ và đầu tư, với hy vọng, những gì đã được thực hiện trong 20 năm quan hệ hợp tác, sẽ được hoàn chỉnh-hoàn thiện hơn, đưa quan hệ hợp tác Việt Nam – Hàn quốc đạt đến một tầm cao mới.

Điều đó cũng có ý nghĩa rằng, Việt Nam – Hàn quốc đang đóng góp cho quá trình phục hồi nền kinh tế châu lục, tham gia tích cực vào quá trình phục hồi nền kinh tế toàn cầu.

Giáo sư Trương Bá Thanh. - ảnh: T.Ngọc

Việc làm đó, đã khẳng định rõ hơn nữa vai trò của 2 nước chúng ta trong bối cảnh hiện nay.

Bền vững hóa quan hệ song phương và hỗ trợ quá trình tái cấu trúc kinh tế Việt Nam

Giáo sư Trương Bá Thanh – Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế - ĐH Đà Nẵng cũng chia sẻ:

Với định hướng xây dựng ĐH Đà Nẵng trở thành một ĐH nghiên cứu, những hội thảo như thế này hết sức cần thiết đối với chúng tôi.

Đây là cơ hội để các giảng viên, các nghiên cứu sinh đang làm việc tại nhà trường, cũng như cộng đồng khoa học ĐH Đà Nẵng có cơ hội phát biểu những ý tưởng, đề xuất của mình vào việc góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương Hàn quốc – Việt Nam.

Chúng tôi trân trọng các báo cáo khoa học do các chuyên gia Hàn quốc mang đến hội thảo. Trên tinh thần lắng nghe và tiếp thu, chúng tôi cho rằng các đề xuất, các gợi ý của phía bạn rất có ý nghĩa trong quá trình tái cấu trúc kinh tế Việt Nam.

Tham dự hội thảo học “Quan hệ Việt Nam – Hàn quốc: 20 năm và triển vọng tương lai” ngoài đông đảo các học giả, chuyên gia cao cấp đến từ các đơn vị tổ chức, còn có đại diện Trung tâm Thông tin Thương mại Bộ Công Thương, CN Đà Nẵng Phòng TMCN Việt Nam; lãnh đạo và đại diện nhiều Sở, ban, ngành, Viện nghiên cứu KTXH TP Đà Nẵng. 

Đây cũng là hội thảo thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan Việt Nam, thể hiện qua báo cáo khoa học và các tham luận. Ngoài báo cáo của các giảng viên, nhà nghiên cứu đang công tác tại ĐH Kinh tế - ĐH Đà Nẵng, IWEP và KIEP; còn có các tham luận chuyên sâu của các Giảng viên, nghiên cứu sinh thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực III, ĐH Duy Tân, ĐH Tài chính – Kế toán Quảng Ngãi, ĐH Cần Thơ, Sở Nội vụ TP Đà Nẵng, ĐH Nội vụ Hà Nội, Trường Cao đẳng Giao thông Vận tải II, ĐH Kiến trúc Đà Nẵng, Viện Công nghệ và Quản trị Á Châu , ĐH Kinh tế quốc dân.

 

Quan hệ Hàn Quốc – Cộng đồng ASEAN: Hướng đến tương xứng với tiềm năng của mỗi bên

Được biết, trong hơn 2 thập niên vừa qua, quan hệ Hàn Quốc – ASEAN đã có bước phát triển thần tốc với những dấu mốc thời gian quan trọng: Hàn Quốc và ASEAN đã thiết lập mối quan hệ đối thoại trên các lĩnh vực vào năm 1989 thông qua ký thư trao đổi; thiết lập quan hệ đối tác đối thoại lần đầu tiên vào năm 1991; đối tác hợp tác toàn diện vào năm 2004; ký kết Hiệp định mậu dịch tự do Hàn Quốc – ASEAN vào tháng 8/2006 và thiết lập quan hệ đối tác chiến lược vào tháng 10/2010.

Tác giả Võ Thị Minh Lệ (IWEP) - người mặc áo trắng, đeo kính. - ảnh: T.Ngọc

Đặc biệt đáng ghi nhận là quá trình thần tốc này diễn ra một cách bền vững – vừa mở ra theo chiều rộng, vừa đi vào chiều sâu, với hàng loạt cơ chế hợp tác được thể chế hóa chắc chắn, mang lại những lợi ích to lớn về an ninh và phát triển cho cả Hàn Quốc và các nước ASEAN. Hàn Quốc từng bước trở thành đối tác thương mại, nhà đầu tư hàng đầu, và bắt đầu đóng vai trò nhà cung cấp viện trợ phát triển chính thức cho ASEAN – Hai tác giả Võ Thị Minh Lệ (IWEP) và Nguyễn Thị Thắm (Viện nghiên cứu Đông Bắc Á) nhìn nhận.

Tuyên bố chung của Hội nghị các ngoại trưởng Hàn Quốc – Mê Công về thiết lập quan hệ đối tác toàn diện vì thịnh vượng chung vào tháng 10 năm 2011 tại Seoul đã mở ra một chiều cạnh mới trong quan hệ Hàn Quốc – ASEAN, chiều cạnh hợp tác phát triển giữa một quốc gia phát triển Đông Bắc Á then chốt là Hàn Quốc với các quốc gia đang phát triển tại Đông Nam Á lục địa bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan và Myanmar – một trong hai nửa địa lý quan trọng của khu vực Đông Nam Á (Về mặt địa lý, khu vực Đông Nam Á được cấu thành từ hai nửa: Đông Nam Á hải đảo (bao gồm Philippines, Indonesia, Malaysia, Brunei, Singapore, Timo Leste) và Đông Nam Á lục địa. Nếu Đông Nam Á hải đảo được nối liền bởi Biển Đông, thì Đông Nam Á lục địa được liên kết bởi sông Mê Công).

Tuyên bố chung đã chỉ rõ những mục tiêu của sự hợp tác này là làm sâu sắc quan hệ đối tác chiến lược Hàn Quốc – ASEAN, góp phần vào sự phát triển bền vững của tiểu vùng sông Mê Công, thúc đẩy hội nhập ASEAN và tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, thu hẹp chênh lệch phát triển nội khối, tăng cường hợp tác Đông Á với ASEAN đóng vai trò động lực.

Tuy nhiên, những thành tựu mà cả Hàn Quốc và Mê công đã đạt được đều chưa xứng tầm với những tiềm năng mà cả hai bên đã có.

Việt Nam - đối tác thương mại chính của Hàn quốc

Trong bối cảnh trên, theo chuyên gia Jaewan CHEONG (KIEP), thật bất ngờ khi Việt Nam đã chính thức trở thành đối tác thương mại chính của Hàn quốc trong những năm gần đây và ngược lại Hàn quốc cũng là đối tác chính của Việt Nam.

Chuyên gia KIEP, ông Jaewan CHEONG. -ảnh:T.Ngọc

Việt Nam đã đóng vai trò quan trọng như là cơ sở sản xuất vệ tinh của Hàn quốc ở nước ngoài trong quá trình sản xuất.

Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Hàn quốc đã tăng nhanh chóng, đến năm 2012, hơn 3.000 doanh nghiệp Hàn quốc hoạt động ở Việt Nam. Thương mại giữa 2 nước có thể hơn 20 tỉ USD trong năm nay.

Hơn ½ số vốn đầu tưvào lĩnh vực sx, đầu tư trong những năm gần đây đa dạng hơn. Việc gia tăng đầu tư này có tác động từ việc VN gia nhập WTO, ảnh hưởng của KAFTA.

Theo số liệu thống kê , Hàn Quốc xếp thứ 4 trong xuất khẩu, xếp thứ 2 trong nhập khẩu và xếp thứ 2 trong FDI của Việt Nam (với 23.96 tỉ USD). Việt Nam hiện tại xếp thư 4 trong ODI của Hàn quốc (so với năm 1992 xếp thứ 17).

Theo chuyên gia Jaewan CHEONG, nếu khủng hoảng tài chính ở châu Âu được giải quyết, quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp Hàn quốc và Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẻ hơn nữa.

Đặc biệt Khi có sự tác động của FTA (hiệp định thương mại tự do), nhiều khả năng 2 nước sẽ phát triển thành 2 đối tác kinh tế lý tưởng. FTA sẽ đóng vai trò lớn trong quan hệ giữa 2 nước và chắc chắn đầu tư của Hàn quốc vào Việt Nam sẽ tăng nhanh trong một số lĩnh vực…

Cùng thẳng thắn nhìn nhận triển vọng và thách thức

Trong khi đó, các tác giả Phạm Sỹ Hùng, Trần Thị Minh Nguyệt Trường Đại học Tài chính – Kế toán Quảng Ngãi đã thận trọng phân tích thêm những vấn đề mà cả 2 phía cùng nhìn nhận lại, bởi triển vọng ljac quan là điều đương nhiên nhưng các thách thức đã bắt dầu lộ diện.

Về triển vọng, các doanh nghiệp lớn của Hàn Quốc nhất định sẽ tiếp tục tăng cường đầu tư vào các nghành công nghiệp trọng điểm, ngoài ra các công ty vừa và nhỏ cũng sẽ tăng cường đầu tư vào Việt Nam. Giá đồng nội tệ cao khiến doanh nghiệp Hàn Quốc khó cạnh tranh trong xuất khẩu, chi phí nhân công cao, chính sách thuế cao là những yếu tố khiến các doanh nghiệp Hàn Quốc hướng đầu tư của mình ra nước ngoài.

Mô hình nhà máy lọc nước biển thành nước ngọt do Doosan Vina xây tặng xã đảo An Bình, huyện đảo Lý Sơn(Quảng Ngãi).

Nhà máy có công suất 200 m3 một ngày đêm, có thể cung cấp cho mỗi gia đình ở xã đảo An Bình 400 lít nước mỗi ngày.

Với tổng vốn đầu tư hơn một triệu USD, nhà máy gồm các hạng mục:bể chứa nước biển đầu vào, bể chứa nước ngọt đầu ra, hệ thống ống dẫn nước biển từ ngoài khơi vào bể chứa, hệ thống ống dẫn nước đầu ra từ bể chứa đến trung tâm phân phối nước cho các hộ gia đình...

 

Việc Hàn Quốc đang ngày càng dành nhiều vốn ODA hơn cho Việt Nam cũng được coi là sẽ tạo tác động tích cực tới dòng vốn FDI vào Việt Nam: Các lĩnh vực chính mà ODA Hàn Quốc tập trung ưu đãi là các dự án cơ sở hạ tầng. Đây là một chính sách tạo điều kiện cho các nhà đầu tư Hàn Quốc tham gia tích cực hơn vào các dự án ở Việt Nam, đồng thời cũng tạo cơ sở vật chất để các nhà đầu tư yên tâm, tin tưởng vào cơ sở hạ tầng của Việt Nam trong dài hạn để quyết định đầu tư lâu dài tại Việt Nam.

Việt Nam đáp ứng được nhiều tiêu chí mà nguồn vốn FDI cần: như môi trường chính trị, xã hội ổn định, thỏa thuận giữa hai chính phủ cho đầu tư, chi phí nhân công. Nguyên vật liệu rẻ, dân số vàng, cửa ngõ vào ASEAN, là nơi đón nhận thuận tiện dịch chuyển đầu tư từ Trung Quốc sang, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghệ cao.

Tuy nhiên, các tác giả cũng lưu ý những thách thức.

Đầu tư của Doanh nghiệp Hàn quốc vào các vùng và lãnh thổ.

Trong những năm gần đây, đầu tư FDI từ Hàn Quốc có xu hướng giảm: Nguyên nhân có thể là do Hàn Quốc đã kiểm soát chặt chẽ hơn dòng vốn đầu tư ra bên ngoài, tiếp cận thận trọng hơn đối với thị trường Việt Nam, nhất là trong bối cảnh bản thân nền kinh tế các nước này chậm phục hồi. Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam từ Hàn Quốc.

Mặc dù môi trường đầu tư của Việt Nam trong thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kể nhưng vẫn còn nhiều điểm tồn tại, hạn chế như: thiếu đồng bộ về cở sở hạ tầng; kinh tế vĩ mô phát triển chưa bền vững; công tác quản trị, điều hành, quản lý các dự án FDI còn bất cập; cạnh tranh thu hút đầu tư không lành mạnh tại một số địa phương, tỷ lệ nội địa hóa thấp và ngành công nghiệp hỗ trợ còn yếu… Vấn đề này cũng đặt ra những thách thức cho chúng ta trong việc thu hút các doanh nghiệp Hàn quốc đến đầu tư.

Ngoài ra, trong thời gian tới, dòng vốn FDI vào Việt Nam có thể sẽ chững lại do định hướng thu hút đầu tư chú trọng hơn tới chất lượng của các dự án thay vì theo đuổi số lượng như trước đây.

Cạnh tranh gay gắt giữa các nước công nghiệp phát triển và đang phát triển, giữa các nước đang phát triển với nhau, giữa các nước trong nội bộ ASEAN sẽ là thách thức không nhỏ đối với Việt Nam trong thu hút dòng vốn FDI trong thời gian tới. Trong khối ASEAN, Myanmar cũng đang nồng nhiệt chào đón nhà đầu tư bằng nhiều chính sách ưu đãi và cũng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều quốc gia trong việc tìm cơ hội đầu tư ở quốc gia này.

Các đại biểu tham dự hội thảo khoa học “Quan hệ Việt Nam – Hàn quốc: 20 năm và triển vọng tương lai” diễn ra ngày 25/9 (tại Trường ĐH Kinh tế - ĐH Đà Nẵng). Rất đông SV năm III và năm IV đã đến dự và chăm chú theo dõi các báo cáo chuyên đề. -ảnh:T.Ngọc 

Về hệ thống giải pháp, 2 tác giả cho rằng trong nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư, các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tiếp tục rà soát, cập nhật bổ sung danh mục kêu gọi đầu tư phù hợp với nhu cầu đầu tư phát triển và quy hoạch phát triển ngành, địa phương.

Triển khai nhanh việc thành lập bộ phận xúc tiến đầu tư tại một số địa bàn trọng điểm. Xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại và xúc tiến du lịch các cấp, bao gồm cả trong nước lẫn đại diện ở nước ngoài nhằm tạo sự đồng bộ và phối hợp nâng cao hiệu quả giữa các hoạt động này. Đồng thời, thực hiện tốt Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia giai đoạn 2012-2015 để đảm bảo kinh phí cho vận động thu hút vốn FDI từ Hàn quốc nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Việt Nam, kết hợp chặt chẽ các chuyến công tác của lãnh đạo cấp cao Đảng và Nhà nước với các hoạt động xúc tiến đầu tư - thương mại - du lịch.

Các bạn SV Trung tâm đào tạo Quốc tế (CIT) – Trường ĐH Kinh tế - ĐH Đà Nẵng trong một làn điệu múa truyền thống Hàn quốc (ảnh chụp tại Đêm hội “Cảm nhận các sắc màu Văn hóa” do CIT tổ chức lần đầu tiên đã diễn ra tối 10/12/2011). -ảnh: T.Ngọc

Tăng cường các đoàn vận động đầu tư theo phương thức làm việc trực tiếp với các tập đoàn lớn của Hàn Quốc để kêu gọi đầu tư vào các dự án lớn, quan trọng. Chủ động tiếp cận và hỗ trợ các nhà đầu tư tiềm năng có nhu cầu đầu tư vào Việt Nam.

Ngoài ra, trong các giải pháp nêu trên cần phải tính đến yếu tố vùng, miền cho các định hướng ưu tiên, đặc thù,... phù hợp thực tế để dần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền trong thu hút vốn FDI từ Hàn Quốc để phục vụ phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn nói riêng và cả nước nói chung.

Tại hội thảo, nhiều báo cáo đã thu hút sự quan tâm

1. Tourism Promotion via Cinematography Korea’s Experience in Korea and Lessons for Danang (Kinh nghiệm quảng bá du lịch qua điện ảnh ở Hàn Quốc và bài học đối với Đà Nẵng) của tác giả Võ Văn Bình - Trường CĐ Giao thông Vận tải II - Đà Nẵng.

2. Korea’s Economic Growth Model and Implications for Remodeling Vietnam’s Economic Growth (Mô hình tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc và bài học cho Việt Nam trong đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế) của tác giả Bùi Quang Bình - Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng.

3. Internal Audit for Risk Management - Experience from Korea Exchange Bank and Implications for the commercial banks in Vietnam (Thực hiện kiểm toán quản lý nội bộ để quản lý rủi ro: Kinh nghiệm từ Ngân hàng Ngoại hối Hàn Quốc và bài học cho các ngân hàng thương mại Việt Nam) của tác giả Hồ Tuấn Vũ – ĐH Duy Tân.

4. High Qualified Human Resources Development in Danang: Experience from Korea (Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Đà Nẵng: Kinh nghiệm từ Hàn Quốc), tác giả Ngô Sỹ Trung - ĐH Nội vụ Hà Nội.

5. Korea’s New Community Movement (Saemaul Undong) and Implications for Danang City (Phong trào xây dựng nông thôn mới của Hàn Quốc (Saemaul Undong) và bài học đối với thành phố Đà Nẵng) các tác giả Nguyễn Hiệp (ĐH Kinh tế, ĐH Đà Nẵng), Huỳnh Văn Thắng (Ban Chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng TP ĐN).

* * * * * * * * * * * * * * * * * *

Quảng bá hình ảnh đất nước và văn hóa Hàn quốc qua du lịch

Ảnh trên chụp tại buổi giới thiệu cách thức thưởng trà Korean. Nghi lễ thưởng trà ở Hàn Quốc không quá cầu kỳ và gò bó nhưng vẫn có những nguyên tắc bắt buộc chủ yếu mang đến sự thư giãn cho người thưởng trà. Tất cả hoà trộn tạo thành một nét riêng trong nghệ thuật thưởng trà Korean.

* * * * * * * * * * * * * * * * * *

Bên cạnh đó, các tác giả Phạm Sỹ Hùng, Trần Thị Minh Nguyệt cũng bày tỏ sự quan tâm đến thực trạng yếu kém trong chuyển giao công nghệ trong hợp tác doanh nghiệp Việt – Hàn.

Ngày 5/4/2012, tại cảng nước sâu Dung Quất (Quảng Ngãi), Công ty Doosan Vina đã xuất lô hàng thứ 3 các thiết bị xử lý hóa chất công nghệ cao sang Turkmenistan.

Lần này Doosan Vina xuất sang Turkmenistan 6 bồn áp lực công nghệ cao và 9 thiết bị trao đổi nhiệt nặng gần 600 tấn.

Các thiết bị này sẽ được sử dụng để tách khí có tính axit và lưu huỳnh từ khí tự nhiên tại khu vực chiết xuất khí gas South Yoloten-Turkmenistan.

Tin và ảnh: Minh Trí / www.nhandan.org.vn

 

Nhìn chung công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp FDI của Hàn Quốc thường cao hơn mặt bằng công nghệ cùng ngành và cùng loại sản phẩm tại nước ta.

Tuy vậy, một số trường hợp các nhà đầu tư đã lợi dụng sơ hở của pháp luật Việt Nam, cũng như sự yếu kém trong kiểm tra giám sát tại các cửa khẩu nên đã nhập vào Việt Nam một số máy móc thiết bị có công nghệ lạc hậu, thậm chí là những phế thải của các nước khác. Tính phổ biến của việc nhập máy móc thiết bị là giá cả đươc ghi trong hóa đơn thường cao hơn giá trung bình của thị trường thế giới. Nhờ vậy, một số nhà đầu tư có thể lợi dụng để khai tăng tỷ lệ góp vốn trong các liên doanh với Việt Nam.

Về phía các địa phương Việt Nam, tình hình chậm giải ngân vốn đầu tư FDI của các Hàn Quốc và các nước khác trog thời gian qua đã dẫn đến những hệ quá xấu cho môi trường thu hút đầu tư.

Nguyên nhân chính khiến các dự án FDI chậm được triển khai hoặc giải ngân không đúng tiến độ vẫn là do vấn đề đất đai, đền bù và giải phóng mặt bằng chậm trễ. Ngoài ra, còn do việc chuẩn bị nguồn lực lao động cho các dự án, đặc biệt là những dự án lớn vẫn còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư.

Ngoài ra, những yếu kém về cơ sở hạ tầng cũng góp phần ảnh hưởng đến thu hút và giải ngân nguồn vốn FDI, quy hoạch hệ thống giao thông… vẫn còn nhiều bất cập chưa theo kịp với yêu cầu của nhà đầu tư.

Trần Ngọc thực hiện