I. Giới thiệu chung

Đại học Đà Nẵng là một trong ba Đại học Vùng của cả nước, đa cấp, đa ngành và đa lĩnh vực. Sau gần 20 năm phát triển, Đại học Đà Nẵng đã thực sự trở thành một trung tâm lớn và có uy tín về đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên và của cả nước.

Trong chiến lược phát triển, Đại học Đà Nẵng khẳng định sẽ tập trung đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đào tạo sau đại học để phấn đấu trở thành đại học theo định hướng nghiên cứu vào năm 2015 và là đại học nghiên cứu vào năm 2020. Đây là định hướng đúng đắn, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước; phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc, toàn diện của nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa; phù hợp với xu hướng quốc tế hóa trong lĩnh vực giáo dục đào tạo trên thế giới hiện nay và đặc biệt là xu hướng tiêu chuẩn hóa các trường đại học trên thế giới thông qua các hệ thống kiểm định, đánh giá, xếp hạng các trường đại học. Nếu chúng ta không đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học thì sẽ không có đóng góp để tạo ra tri thức mới cho nhân loại; nếu không đẩy mạnh hoạt động chuyển giao công nghệ thì không thể ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào cuộc sống; và sẽ không được xếp thứ hạng cao trong các bảng xếp hạng các trường đại học, sẽ không còn là một trường đại học đích thực trong hệ thống tiêu chuẩn mới.

Hiện nay, với 2046 cán bộ, trong đó số lượng giảng viên là 1.407 người. Đại học Đà Nẵng đang triển khai đào tạo cho 94.959 sinh viên, trong đó có 48.239 sinh viên chính qui bậc đại học/cao đẳng và 3978 học viên cao học và NCS. Bên cạnh hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cũng được tập trung phát triển. Các lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu của Đại học Đà Nẵng rất phong phú, bao gồm hầu hết các lĩnh vực từ khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn, khoa học giáo dục, khoa học ngôn ngữ, khoa học kinh tế và khoa học kỹ thuật.

II. Kết quả hoạt động nghiên cứu năm 2020

Trong năm học qua, hoạt động NCKH diễn ra hết sức sôi nổi và đạt được nhiều kết quả tốt. Cụ thể, trong năm học 2011-2012 chúng ta đã triển khai thực hiện: 4 đề tài cấp Nhà nước (1 đề tài đã bảo vệ vào tháng 8/2012 với xếp loại xuất sắc), 1 đề tài Nghị định thư, 2 đề tài Nafosted, 2 đề tài ươm mầm nghiên cứu trẻ, 2 đề tài cấp Bộ trọng điểm, 24 đề tài trong dự án TRIGs, 60 đề tài cấp Bộ, 58 đề tài cơ sở do ĐHĐN quản lý, 84 đề tài cấp cơ sở do trường quản lý và 7 đề tài liên kết với địa phương. Như vậy, cùng lúc chúng ta triển khai thực hiện 244 đề tài các loại, trung bình 5.47 giảng viên/đề tài, đây là một tỉ lệ cao nhất từ trước đến nay. Bên cạnh đó, cán bộ ĐHĐN cũng đã thực hiện hàng trăm hợp đồng sản xuất, chuyển giao công nghệ với tổng giá trị hợp đồng trên 15 tỉ đồng.

Hoạt động xuất bản Tạp chí Khoa học và Công nghệ của ĐHĐN và công bố kết quả nghiên cứu của cán bộ Đại học Đà Nẵng trong năm học qua đạt được kết quả rất tốt. Cụ thể, Tạp chí Khoa học và Công nghệ đã đề nghị và được phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo tăng từ 6 số lên 12 số mỗi năm và tăng số trang cho mỗi số từ 80 trang lên 150 trang. Trong năm học qua ĐHĐN đã xuất bản 12 số với 19 quyển (có số in nhiều quyển để phục vụ Hội nghị Khoa học và Kỷ niệm ngày thành lập các trường thành viên và ĐHĐN). Đặc biệt, đã xuất bản được 5 quyển Tạp chí bằng tiếng Anh. Bên cạnh Tạp chí KH&CN của Đại học Đà nẵng, cán bộ còn công bố kết quả nghiên cứu trên nhiều Tạp chí, Kỷ yếu hội nghị với tổng số hơn 550 bài, trong đó gần 200 bài trên các tạp chí và kỷ yếu hội nghị quốc tế.

Trong năm học qua, các đơn vị thành viên của Đại học Đà Nẵng đã tổ chức nhiều Hội nghị khoa học quốc gia và quốc tế quan trọng như: Hội nghị về Công nghệ thông tin (KSE 2012), Hội nghị về thiết kế vi mạch và điện tử (ICDV 2012), Hội nghị Clean Energy đồng tổ chức với Bristish Council và Sterling Group ở Trường ĐHBK; Hội nghị khoa học về Ngôn ngữ học và Diễn ngôn ở Trường ĐHNN; Hội nghị về Hệ thống thông tin địa lý GIS ở trường ĐHSP; Hội nghị về quản lý vùng bờ ở trường Đại học Kinh tế; Hội nghị quốc tế về an ninh nguồn nước với GGGI Hàn Quốc, Hội thảo quốc tế về an toàn và rủi ro với Đại học Yokohama Nhật bản, Hội nghị đổi mới toàn diện GDĐH,… tại ĐHĐN. Những Hội nghị khoa học cấp quốc gia và quốc tế như vậy đã góp phần quan trọng trong việc giao lưu, trao đổi kết quả nghiên cứu và giúp cho cán bộ cập nhật những thông tin mới để định hướng cho những nghiên cứu trong tương lai.

ĐHĐN cũng đã quan tâm phát triển hoạt động sinh viên NCKH, năm 2011, sinh viên ĐHĐN đạt 01 giải nhất, 02 giải Nhì, 02 giải Ba và 04 giải Khuyến khích khi tham dự Giải thưởng SVNCKH của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cũng trong năm 2011, sinh viên ĐHĐN đã xuất sắc đạt Giải Nhì toàn quốc tại cuộc thi Robocon. Đặc biệt, trong năm 2011 các doanh nghiệp đã bắt đầu đầu tư cho sinh viên nghiên cứu để giải quyết các vấn đề thực tế đặt ra tại các doanh nghiệp, ví dụ như: công ty ô tô Trường Hải đã cấp 110 triệu để thực hiện 11 đề tài trong lĩnh vực cơ khí giao thông.

Bên cạnh việc triển khai các hoạt động nghiên cứu, trong năm học vừa qua ĐHĐN cũng đã có những điều chỉnh, bổ sung kịp thời các chính sách để thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ. Trong năm học 2011-2012, lần đầu tiên Đảng ủy ĐHĐN đã ban hành một Nghị quyết chuyên đề về hoạt động khoa học và công nghệ để định hướng cho việc phát triển hoạt động này trong những năm đến. Ngoài ra, lần đầu tiên ĐHĐN đã thể chế hóa việc NCKH là hoạt động bắt buộc đối với Giảng viên bằng cách đưa vào Qui chế chi tiêu nội bộ định mức giờ chuẩn về NCKH. Trong Qui chế cũng đã cho phép trích đến 3% từ nguồn thu học phí đại học hệ chính qui và 2% từ nguồn thu đào tạo sau đại học để sử dụng cho hoạt động NCKH. Đây là những chính sách làm đòn bẩy để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu tại ĐHĐN trong những năm đến.

III. Đánh giá

Nhìn chung, phong trào nghiên cứu khoa học đã triển khai rộng khắp trên tất cả các lĩnh vực, các Khoa/Bộ môn trong toàn Đại học Đà Nẵng. Hoạt động nghiên cứu khoa học đã góp phần nâng cao chấp lượng đào tạo, bước đầu lồng ghép được kết quả nghiên cứu của các Thầy Cô vào các bài giảng và tạo ra được một số sản phẩm khoa học có giá trị.

Tuy nhiên, những kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, vị thế và nhu cầu phát triển của ĐHĐN trong thời gian đến.

Hoạt động nghiên cứu còn một số hạn chế như:

-         Đội ngũ cán bộ tham gia nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đào tạo sau đại học còn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển trong tình hình mới. Số lượng cán bộ có học vị Tiến sĩ/Tiến sĩ Khoa học chỉ chiếm tỉ lệ chưa đến 20 %, trong đó số có học hàm Giáo sư/Phó Giáo sư chỉ chiếm tỉ lệ 4%. ĐHĐN còn thiếu những chuyên gia đầu ngành ở các lĩnh vực. Nhiều cán bộ còn ngại không muốn đăng ký thực hiện đề tài do hạn chế về kinh nghiệm, năng lực và thiếu sự đam mê NCKH.

-         Cơ chế, chính sách hiện tại chưa khuyến khích cán bộ tham gia NCKH và hoạt động nghiên cứu chỉ tập trung vào một nhóm cán bộ, còn 1 bộ phận không nhỏ cán bộ/giảng viên chưa thể hòa nhập thậm chí tách rời khỏi cộng đồng khoa học.

-         Việc tổ chức, triển khai hoạt động nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn còn hạn chế. Điều kiện làm việc chưa đáp ứng yêu cầu NCKH, nhiệm vụ chủ yếu của các Khoa là phục vụ cho giảng dạy; khả năng tổ chức, phối hợp trong hoạt động NCKH còn yếu dẫn đến các đề tài nghiên cứu mang nặng tính cá nhân, nhỏ lẻ.

-         Hợp tác với các doanh nghiệp còn hạn chế và chưa thực sự là nhu cầu sống còn của cả 2 bên. Hoạt động hợp tác chủ yếu dựa vào quan hệ cá nhân hơn là được tổ chức bài bản và Nhà nước chưa có những chính sách cụ thể để phát triển mối quan hệ này.

-         ĐHĐN chưa tạo ra được các công nghệ, kết quả mới để chuyển giao cho doanh nghiệp. Chưa có các kết quả nghiên cứu có thể thương mại hóa.

IV. Giải pháp

Để khắc phục các hạn chế trên, trong thời gian đến ĐHĐN cần triển khai nhiều giải pháp như:

-         Thứ nhất, cần tập trung đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học – chuyển giao công nghệ. Phải làm thay đổi về mặt nhận thức của cán bộ/giảng viên và xây dựng đội ngũ giảng viên vừa là cán bộ giảng dạy vừa là nhà khoa học giỏi; Tăng cường kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học; Xây dựng môi trường khoa học thật sự để cán bộ giảng viên có thể phát huy tối đa năng lực sáng tạo; Tăng cường hợp tác trong nghiên cứu; và giảm tải về thời gian giảng dạy để cán bộ giảng viên có thời gian nghiên cứu.

-         Thứ hai, cần phải thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp. Tăng cường trao đổi thông tin giữa nhà trường và doanh nghiệp; Tăng cường những hoạt động mà hai bên cùng có lợi; Kiên trì đề xuất để Nhà nước ban hành các chính sách nhằm khuyến khích doanh nghiệp hỗ trợ cho các trường đại học; đẩy mạnh hoạt động hợp tác thông qua cựu sinh viên.

-         Thứ 3 phải tăng qui mô và chất lượng đào tạo sau đại học, đặc biệt phải triển khai đào tạo sau đại học chính qui tập trung, tăng cường hợp tác quốc tế và kết hợp giữa đào tạo sau đại học và nghiên cứu khoa học.

V. Kết luận

Trên đây là một số nét chính về hoạt động NCKH trong thời gian qua và chúng ta có quyền hy vọng rằng, với nền tảng kiến thức tốt, sự năng động, sáng tạo, lòng say mê nghiên cứu thì trong thời gian đến chúng ta sẽ đạt được nhiều thành tích tốt hơn nữa trong hoạt động NCKH và chuyển giao công nghệ.

PGS.TS. Võ Trung Hùng

Trưởng Ban Khoa học Công nghệ và Môi trường

Từ khóa      
Gửi cho bạn
Email người gửi:*

Người nhận:

Email người nhận:*

Tiêu đề:*
//
Nội dung:


    
In Bài
//
//
TIN MỚI THÔNG TIN TUYỂN SINH THÔNG TIN CÁN BỘ
TIÊU ĐIỂM SINH VIÊN
HÌNH ẢNH