Đầu tư, phát triển các trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học lớn, xứng tầm đảm nhận sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

14/02/2024

Tại Hội thảo khoa học “Một số vấn đề lý luận, thực tiễn đặt ra trên một số lĩnh vực giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, phục vụ việc xây dựng Văn kiện Đại hội XIV của Đảng” do Hội đồng Lý luận Trung ương phối hợp với Thành ủy Đà Nẵng tổ chức (mời xem tin tại đây), PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ-Thành ủy viên, Giám đốc Đại học Đà Nẵng (ĐHĐN) đã có bài phát biểu Tham luận nổi bật, sâu sắc về chiến lược đầu tư, phát triển các trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học (NCKH) lớn, xứng tầm để đảm nhận sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao (NNL CLC) cho đất nước.

Nhân dịp đầu Xuân mới, trân trọng giới thiệu nội dung phát biểu của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ tại Hội thảo quan trọng này:


PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ-Thành ủy viên,

Giám đốc ĐHĐN phát biểu Tham luận 

Phát triển NNL CLC được Đại hội XIII xác định rõ là 1 trong 3 “đột phá chiến lược” “tạo động lực mạnh mẽ để phát triển nhanh và bền vững”.

1. Về yêu cầu phát triển NNL CLC, theo tôi cần quán triệt tính chất “đột phá” ở đây chính là ưu tiên tập trung đào tạo đội ngũ lãnh đạo, quản lý, chuyên gia trong các “lĩnh vực then chốt”, gắn liền với “phát triển con người” “đáp ứng yêu cầu NNL CLC cho Cách mạng Công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế.


GDĐH Việt Nam góp phần quan trọng

đào tạo NNL có chất lượng đáp ứng

yêu cầu phát triển của đất nước 

2. Về nhận diện kết quả, hạn chế của Giáo dục ĐH trong đào tạo NNL CLC:

Qua thực tiễn qua 10 năm thực hiện Nghị quyết số 29 và nửa nhiệm kỳ Đại hội XIII cho thấy Giáo dục đào tạo (GDĐT), nhất là Giáo dục đại học (GDĐH) đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: Đội ngũ giảng viên, các nhà khoa học ngày càng lớn mạnh; chất lượng đào tạo và NCKH ngày càng tăng (công bố quốc tế ngày càng tăng); hệ thống ĐH Việt Nam tiếp cận dần hệ thống đại học thế giới, nhiều trường ĐH Việt Nam có tên trên các bảng xếp hạng danh giá quốc tế.

Vì vậy, có thể có thể nói dù còn nhiều khó khăn, hạn chế nhưng GDĐH Việt Nam đã góp phần quan trọng đào tạo NNL có chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời gian qua.

Lấy tự chủ ĐH làm khâu trung tâm,

“điểm đột phá” hoàn thiện thể chế,

chính sách pháp luật về GDĐH

Tuy nhiên, chúng ta cũng thẳng thắn nhìn nhận GDĐH Việt Nam còn nhiều hạn chế, tồn tại:

(1) Nhận định hạn chế của Đại hội XIII vẫn còn giá trị: “Đào tạo NNL CLC chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KT-XH” trên các phương diện như: Quy mô (nhất là đào tạo sau ĐH), trình độ NNL, năng suất lao động còn thấp so với Asean. Ngân hàng Thế giới đánh giá Giáo dục ĐH Việt Nam còn nhiều nội tại, hạn chế về quản trị; chất lượng đào tạo và NNL.

(2) Đầu tư cho Giáo dục ĐH để thực sự là “quốc sách hàng đầu” vẫn còn là thách thức lớn (chủ yếu chi ngân sách Giáo dục phổ thông, đầu tư cho Giáo dục ĐH ước khoảng 10%, chỉ tương đương khoảng 0,27% GDP); chi phí cho mỗi sinh viên chỉ khoảng 25,5 triệu đồng/năm (trong đó chi đầu tư NSNN chỉ khoảng 8,8 triệu đồng/sinh viên 35%)…

Thực tế này khiến các trường ĐH còn phụ thuộc lớn vào nguồn thu học phí trong khi duy trì mức học phí thấp đối với các trường công lập, các đơn vị được giao tự chủ còn bị cắt ngân sách, dẫn đến phải tăng quy mô, tăng học phí, gây áp lực thêm cho xã hội.


Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển

(3) Hệ thống pháp luật trong GDĐT nhất là về tự chủ ĐH còn thiếu đồng bộ, nhất quán, chưa tính đến đặc thù các trường ĐH công lập, còn lúng túng, chồng chéo giữa mô hình quản trị theo Bộ chủ quản với Hội đồng Trường…

(4) Cơ chế gắn kết viện-trường còn chưa thực sự hiệu quả; thủ tục tiếp nhận tài trợ quốc tế, thu hút nguồn lực, đãi ngộ nhân tài… còn nhiều bất cập; thiếu đầu tư trọng tâm, trọng điểm; gây “lãng phí chất xám” (bên cạnh “chảy máu chất xám”) trong sử dụng NNL CLC.

(5) Chúng ta còn thiếu các trung tâm đào tạo, NCKH lớn, đa ngành, đa lĩnh vực xứng tầm khu vực và hướng đến thế giới để đảm nhận sứ mệnh đào tạo NNL CLC, đáp ứng yêu cầu phát triển, hội nhập quốc tế.

Coi các trường ĐH là các đơn vị sự nghiệp

công lập đặc thù để ban hành các chính sách

 nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và NCKH 

3. Về định hướng, giải pháp trọng tâm

Trước bối cảnh cạnh tranh và hội nhập quốc tế gắn liền với cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đòi hỏi nền kinh tế phải thay đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang theo chiều sâu thì chỉ có một nền giáo dục ĐH phát triển mới cung ứng được NNL CLC, làm tăng suất lao động và năng lực cạnh tranh, hội nhập.

Do đó, tôi đề xuất cần tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực với những định hướng, giải pháp sau:

Hợp tác quốc tế là "đòn bẩy" để huy động thêm

các nguồn lực cho hội nhập, phát triển bền vững

Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về GDĐH cần hết sức quan tâm các vấn đề sau:

(1) Lấy tự chủ ĐH làm khâu trung tâm, “điểm đột phá” trong hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật;

(2) Tính đặc thù của các trường ĐH: Đây là nơi tập trung đội ngũ trí thức đông đảo có sức sự sáng tạo và yêu cầu cao về hội nhập quốc tế nên không thể “đánh đồng” với các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) của các tổ chức, đoàn thể.

Cần nghiên cứu, coi các trường ĐH là các ĐVSNCL đặc thù để ban hành các chính sách liên quan như công tác nhân sự, quy định độ tuổi, trình độ chính trị khi bổ nhiệm các chức danh chuyên môn, khoa học; tạo điều kiện về cơ chế chính sách thúc đẩy các trường ĐH thu hút nhân tài, các nhà khoa học, chuyên gia.


Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất

phục vụ đào tạo và NCKH

(3) Tính chất sở hữu quyết định bản chất, phương thức quản trị ĐH:

- Đối với các trường dân lập/tư thục/có yếu tố đầu tư nước ngoài thì tài sản thuộc về cổ đông, người góp vốn, nhà đầu tư nên quyền quản lý, quyết định hoàn toàn do các chủ sở hữu quyết định nên quyền hạn của Hội đồng quản trị, Hội đồng trường là rất lớn với tư cách đại diện chủ sở hữu.

Nhà nước chỉ phải kiểm soát, quản lý về chất lượng, đặc biệt đối với các ngành đặc thù, quan trọng như sư phạm, giáo dục sức khoẻ. Trường ngoài công lập phải hoạt động phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển của hệ thống và đúng quy định của pháp luật.

Sự đồng hành hợp tác nhà trường-doanh nghiệp

góp phần tăng cường nguồn lực, CSVC

đem lại giá trị thụ hưởng cho nguời học 

- Đối với các trường công lập dù được giao tự chủ chi thường xuyên và đầu tư thì đất đai, tài sản, con người là của Nhà nước nên không thể “thoát ly” hoàn toàn vai trò quản lý của Bộ chủ quản, của các cơ quan thanh tra, kiểm toán của Nhà nước để giao phó toàn bộ cho Hội đồng trường.

Vì vậy, xóa bỏ hoàn toàn vai trò Bộ chủ quản là vấn đề lớn, cần được nghiên cứu thấu đáo, có thí điểm, tổng kết, đánh giá. Để tạo điều kiện nên theo hướng phân quyền nhiều hơn từ Bộ chủ quản, giảm dần theo sự lớn mạnh, tự chủ và hiệu quả của Hội đồng trường.

Đổi mới cơ chế hợp tác viện-trường để

khai thác các nguồn lực, gắn kết hiệu quả

(4) Tính thực tiễn của Việt Nam: Ở Việt Nam tất cả các tổ chức và trường ĐH cũng vậy đều đặt dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng nên Đảng ủy thực hiện chức năng lãnh đạo và giám sát với đầy đủ bộ máy được tổ chức chặt chẽ theo các quy định của Đảng. Vì vậy, việc Hội đồng Trường cũng có chức năng lãnh đạo và giám sát thì có trùng lắp hay không? Có cần thiết hay không?

Hai là, khơi thông các nguồn lực ngoài Ngân sách Nhà nước cho GDĐH

Nhà nước với vai trò “bà đỡ” khuyến khích, tạo điều kiện đẩy mạnh hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp để doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo, hỗ trợ nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất (CSVC) góp phần nâng cao chất lượng đào tạo là hết sức quan trọng. Vì vậy, Chính phủ cần bổ sung, hoàn thiện, ban hành các chính sách như về thuế, đất đai… khuyến khích doanh nghiệp chú trọng tiết kiệm dành nguồn đầu tư mà “điểm đến” là hỗ trợ, đóng góp cho các trường ĐH.

Các bộ, ngành cần quan tâm tháo gỡ những “điểm nghẽn” về cơ chế, chính sách để khuyến khích các trường tiếp nhận các nguồn tài trợ quốc tế nhằm tranh thủ thêm nguồn lực để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và NCKH.


Quy hoạch lại mạng lưới các trường theo hướng

hình thành các ĐH lớn, đa ngành, đa lĩnh vực, 

trong đó phát triển ĐHĐN thành ĐH Quốc gia,

giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo NNL CLC

Ba là, đổi mới cơ chế hợp tác viện-trường để gắn kết, hiệu quả

Thực tế cho thấy các trường ĐH có đội ngũ giảng viên, nhà khoa học lớn nhưng lại thiếu CSVC xứng tầm phục vụ nghiên cứu, trong khi đó, các viện nghiên cứu được Nhà nước đầu tư, trang bị tốt nhưng lực lượng nghiên cứu mỏng, không tận dụng, khai thác hết hiệu quả đầu tư. Do đó, cần đổi mới cơ chế viện-trường theo 02 hướng:

(1) Tái cấu trúc các viện nhỏ, lẻ, sáp nhập vào các ĐH lớn để nâng cao hiệu quả, phát huy tiềm lực đội ngũ, CSVC, tạo giá trị, sản phẩm khoa học đặc trưng, ứng dụng thực tế;

(2) Nhất thể hóa cơ quan chủ quản của các trường, viện để quản lý tập trung sẽ khai thác nguồn lực một cách hiệu quả.


Phát triển ĐHĐN thành ĐH Quốc gia không phải

để thay đổi danh xưng mà để ưu tiên tập trung 

đầu tư thành trung tâm đào tạo, NCKH hàng đầu

đảm nhận sứ mệnh đào tạo NNL CLC 

Bốn là, ưu tiên đầu tư GDĐH trên cơ sở quy hoạch lại mạng lưới các trường

Sắp xếp lại mạng lưới các trường ĐH theo hướng hình thành các ĐH lớn đa ngành, đa lĩnh vực, nhất là phát triển thêm một số ĐHQG gắn với các trung tâm kinh tế - xã hội lớn theo chủ trương của Đảng (Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị), trong đó có ĐHĐN.

Việc trở thành ĐH Quốc gia không phải để thay đổi danh xưng mà để Nhà nước ưu tiên tập trung đầu tư, tạo cơ chế thuận lợi, giao quyền tự chủ cao nhất cho các ĐH Quốc gia để thực sự trở thành các trung tâm đào tạo và NCKH hàng đầu của đất nước, xứng tầm khu vực và hướng đến thế giới, giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo NNL CLC góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Trung tâm TT-HL và Truyền thông ĐHĐN

Kính mời xem các tin khác: 

Hội nghị Phát triển Giáo dục và đào tạo, triển khai Nghị quyết số 26-NQ/TW: ĐHĐN giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo nhân lực chất lượng cao

ĐHĐN đăng cai Hội thảo Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp chip bán dẫn: Hợp lực, sẵn sàng vì sự phát triển các vùng và đất nước

Lãnh đạo và các nhà khoa học của ĐHĐN tham dự Hội thảo Khoa học triển khai các Nghị quyết của Đảng trong thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

In
1342 Đánh giá bài viết:
5.0

BÀI VIẾT MỚI